- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T, tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2026/HS-ST Ngày 10-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh và bà Lê Thị Kiểm .
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Minh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Như Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2026/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 11/10/1985 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường L, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Vũ Thị Y; vợ, con: chưa; tiền án: Ngày 21/9/2022, Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: Ngày 19/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2025, chuyển tạm giam từ ngày 03/01/2026 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Phạm Văn K1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/12/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn T đã thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà T đến khu vực phường L, tỉnh Ninh Bình để tìm nơi mua ma tuý về sử dụng. Khi đến khu vực tổ dân phố Đ, phường L, T xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ ở ven đường thì gặp 01 người đàn ông tên T1, là bạn nghiện của T, đang đứng cạnh 01 chiếc xe mô tô ở vỉa hè (T không biết họ, tên đầy đủ, năm sinh, địa chỉ của T1, không nhớ nhãn hiệu, biển kiểm soát của xe mô tô). T hỏi mua ma tuý của T1 và lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc của mình số tiền 300.000 đồng đưa cho T1. T1 nhận tiền rồi chỉ cho T đi ra vị trí 01 gốc cây gần đó để lấy ma tuý. T đi ra vị trí gốc cây T1 chỉ thì thấy có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, T biết đó là ma tuý nên dùng tay phải cầm lấy túi nilon rồi đi bộ để tìm thuê xe ôm chở về nhà, T1 đi đâu T không biết. Ngay lúc này, Công an phường L đang trên đường tuần tra, đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai là ma tuý cất giấu để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01;
- Thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T đựng trong 01 chai nhựa được niêm phong kín ký hiệu NT01.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại tổ dân phố H, phường L, tỉnh Ninh Bình, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 289/KL-KTHS ngày 01/01/2026 của Phòng thuật hình sự - Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,263g, loại Heroine (H).
Tại bản Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 01/01/2026 của Phòng thuật hình sự - Công an tỉnh N, kết luận: Tìm thấy chất Codeine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 thu của Nguyễn Văn T gửi giám định.
Cáo trạng số 134/CT-VKS-KV5 ngày 10/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng hoàn trả sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của bị cáo, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, các kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 25/12/2025, tại dân phố Đ, phường L, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn T đang cất giữ trái phép 0,263 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Do vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có tiền án, đã bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 21/9/2022, Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tính đến ngày 25/12/2025 chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tại phiên tòa, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy là Heroine hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Nguyễn Văn T dương tính với chất ma tuý Codeine. T khai nhận ngày 24/12/2025, T có sử dụng ma tuý loại Heroine. Tiến hành xác minh tại địa phương, xác định T không thuộc đối tượng của Điều 256a Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 24/12/2025 của Nguyễn Văn T không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an phường L, tỉnh Ninh Bình để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về nguồn gốc số H đã thu giữ: T khai mua của một người đàn ông tên T1, là bạn nghiện của T. Tuy nhiên, T không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này. Cơ quan điều tra đã tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra, ngoài lời khai của T không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy là Heroine hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì, số 289/KTHS (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 10/02/2026).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |