vanban.org

Bản án 57/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 26/03/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn Út L về việc xin giảm nhẹ hình phạt.

Xử phạt bị cáo Út L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/10/2025. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn Út L về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2026/HS-PT
Ngày: 26-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Phan Thanh Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phan Thanh Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2026/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Lưu Văn Út L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lưu Văn Út L (tên gọi khác là P), sinh ngày 15/9/1990 tại tỉnh Cà Mau; số CCCD: 096090002256; nơi thường trú: Khóm Ô, phường L, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khóm Ô, phường L, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn M (đã chết) và bà Hồ Thị Thanh P1; vợ tên Lê Thị Ánh X và có 03 con; tiền án: Có 01 tiền án (Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 02/3/2023, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2025, nộp án phí ngày 12/5/2023); tiền sự: Không; nhân thân: (1) Tại quyết định số 200/QĐ-XPHC ngày 17/10/2017, Trưởng Công an thành phố C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, không giao được quyết định xử phạt do tại thời điểm này L bỏ địa phương đi; (2) Tại Quyết định số 159/2018/QĐ-TA ngày 30/7/2018, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai ngiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 13/4/2020. Qua xác minh, L không bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện); bị tạm giữ từ ngày 10/10/2025; bị tạm giam từ ngày 16/10/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 50 phút, ngày 10/10/2025, Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an tỉnh C kết hợp với Công an phường T, tỉnh Cà Mau tuần tra trên địa bàn phường T, phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, lực lượng tiến hành dừng xe mô tô 69K1 – 5952 do Lưu Văn Út L điều khiển tại đoạn đường thuộc khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của L đang mặc có 01 bọc nilon màu trắng, có viền màu xanh, loại bóp miệng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, nên lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 bọc nilon màu trắng có viền màu xanh, loại bóp miệng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong bì màu trắng, hình chữ nhật; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Vivo màu đỏ, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0839626607 được niêm phong trong phong bì màu trắng, hình chữ nhật; 01 xe máy màu xanh mang biển kiểm soát 69K1 - 5952 đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 272/KL-KTHS ngày 14/10/2025, của phòng K Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, có viền màu xanh, loại bóp miệng, được niêm phong trong phong bì màu trắng hình chữ nhật (ký hiệu số 01), là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1980 gam (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2026/HS-ST ngày 28/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Út L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/02/2026, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau về phần hình phạt.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Văn Út L khai nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Cụ thể: Vào ngày 10/10/2025, tại khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau, Lưu Văn Út L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1980 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, thì bị bắt quả tang. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau đã xét xử bị cáo Út L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.

Xét kháng cáo của bị cáo: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Thân nhân của bị cáo có công với cách mạng. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân không tốt do từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nay lại tái nghiện. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, với lý do bị cáo có con nhỏ, mẹ già, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tuy nhiên, các lý do mà bị cáo đặt ra không phải là tình tiết giảm nhẹ mới để làm thay đổi mức hình phạt tù mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau được chấp nhận;

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn Út L về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau về phần hình phạt.

2. Xử phạt bị cáo Út L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/10/2025.

3. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ