- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Lương Thị Thùy T được ly hôn với ông Huỳnh Công B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-03-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Chính
Ông Trần Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.
Ngày 09 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thùy T, sinh ngày 14/02/1990 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/8/2021.
Địa chỉ: Số H đường N, phường S, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong việc nhận văn bản tố tụng:
1/ Bà Phạm Ngọc N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Số E, đường số B, khu dân cư E, phường P, thành phố Cần Thơ.
2/ Ông Huỳnh Hữu K, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số B, phường S, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Công B, sinh ngày 15/01/1988 (vắng mặt).
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 03/9/2025 nguyên đơn bà Lương Thị Thùy T trình bày:
Năm 2008, bà Lương Thị Thùy T và ông Huỳnh Công B quen nhau qua mai mối, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2015 tại UBND phường U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc. Thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay, hiện tại ai cũng có cuộc sống riêng. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông B. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Huỳnh Minh Q, sinh ngày 31/5/2016 và Huỳnh Trang Minh T1, sinh ngày 29/10/2019, hiện các con đang sống cùng mẹ, bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết.
- Bị đơn ông Huỳnh Công B vắng mặt không có lời trình bày trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lương Thị Thùy T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Huỳnh Công B vắng mặt không lý do. Xét thấy, phiên tòa đã mở lần 02, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 72/2015 ngày 04/8/2015 của Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND phường S, thành phố Cần Thơ) thể hiện, bà Lương Thị Thùy T và ông Huỳnh Công B có đăng ký kết hôn, đương sự trình bày kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Theo nguyên đơn bà T trình bày quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên muốn trả tự do cho nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2023 đến nay và hiện tại ai cũng có cuộc sống riêng. Toà án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhưng ông B không tham gia nên không tiến hành hoà giải được, ông B biết được thông tin bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng không phản hồi ý kiến cho Toà án. Điều này chứng tỏ ông B không có nguyện vọng được hàn gắn với bà T. Việc nam nữ đăng ký kết hôn với nhau xuất phát từ mong muốn tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không như mong muốn, không còn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng thì ly hôn chính là giải pháp cho cả hai, nên không thể bắt buộc bà T phải tiếp tục chung sống với ông B nếu như bà không còn tình cảm và thực tế hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà T trình bày, quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên Huỳnh Minh Q, sinh ngày 31/5/2016 và Huỳnh Trang Minh T1, sinh ngày 29/10/2019, hiện cả hai con đều đang sống cùng mẹ, bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông B không phản hồi ý kiến cho Tòa án về quyền nuôi con. Xét thấy, bà T và ông B không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, hiện tại cả hai con đều đang sống cùng mẹ, đã ổn định về chỗ ở và học hành. Mặt khác, cháu Q có ý kiến trình bày nguyện vọng được sống với mẹ là bà T, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi”. Xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử quyết định, giao 02 con chung tên Huỳnh Minh Q, sinh ngày 31/5/2016 và Huỳnh Trang Minh T1, sinh ngày 29/10/2019 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi. Giành quyền thăm nom con chung cho ông B và không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bà T phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010141 ngày 18/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà T đã nộp xong án phí.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Lương Thị Thùy T được ly hôn với ông Huỳnh Công B.
2. Về quyền nuôi con: Giao bà Lương Thị Thùy T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Huỳnh Minh Q, sinh ngày 31/5/2016 và Huỳnh Trang Minh T1, sinh ngày 29/10/2019 đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Huỳnh Công B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết do đương sự không có yêu cầu.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.
4. Án phí sơ thẩm: Buộc bà Lương Thị Thùy T phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010141 ngày 18/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà T đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND KV7-Cần Thơ; - THADS TP Cần Thơ; - UBND Phường S; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Nghiệp |