- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xuân - Hiếu"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2026/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2026 Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng và ông Ngô Đình Tưu
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Cao Thị Vân – Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 204/2025/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2026/QĐST-DS ngày 25/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2026/QĐ-DS ngày 13/3/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1982 – có mặt;
Nơi cư trú: xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 – vắng mặt;
Nơi cư trú: xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung tại bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày: chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào ngày 04/12/2006, hôn nhân trên cơ sở tình yêu, hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại UBND xã D, huyện D (nay là xã Q), tỉnh Nghệ An. Sau ngày kết hôn hai vợ chồng sống với nhau bình thường hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách trong sinh hoạt, nuôi dạy con cái cũng như kinh tế, anh H còn đánh đập, xúc phạm chị, đe dọa về tinh thần, đời sống chung căng thẳng và luôn lo sợ, hai vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 27/10/2007, Nguyễn Hữu S, sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/6/2021. Cháu Nguyễn Thị Hoài T đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị X có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung là Nguyễn Hữu S và Nguyễn Bảo N cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh Nguyễn Văn H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An đã tiến hành tống đạt cho anh Nguyễn Văn H các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải. Qua xác minh tại Công an xã Q thì anh Nguyễn Văn H có nơi đăng kí hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An, hiện đang có mặt và sinh sống tại địa phương. Do đó, tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt ở các phiên hòa giải nên Tòa án đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn H; về con chung: giao hai con chung Nguyễn Hữu S, sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/6/2021 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; việc cấp dưỡng do đương sự không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn anh Nguyễn 2 Văn H có đăng ký hộ khẩu tại xóm B, xã Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Nghệ An theo quy định tại điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết, xác minh tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với anh Nguyễn Văn H và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị X đã thông báo đến anh Nguyễn Văn H toàn bộ nội dung khởi kiện nhưng anh H vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa. Do đó căn cứ vào các điều 70, điều 207, điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết và xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H.
. Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn H là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc giữa chị X và anh H đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, thiếu sự hòa hợp nên dẫn đến tình cảm phai nhạt. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị X cũng xác định không còn tình cảm gì với anh H nữa, hiện nay đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Riêng anh H, sau khi được thông báo toàn bộ nội dung khởi kiện của chị X về việc ly hôn, nuôi con chung vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải và không có ý kiến gì về việc Tòa án giải quyết ly hôn cũng như nuôi con chung. Điều đó chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa chị X và anh H đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bởi vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
. Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 27/10/2007, Nguyễn Hữu S, sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/6/2021. Cháu Nguyễn Thị Hoài T đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hai con chung là Nguyễn Hữu S và Nguyễn Bảo N hiện nay đang ở với chị X. Xét chị X có địa chỉ cư trú rõ ràng, đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Căn cứ điều kiện nuôi con thực tế và nguyện vọng của con chung HĐXX nhận thấy cần áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên giao con chung cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp, chị Nguyễn Thị X 3 không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn H.
. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
. Án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Hữu S, sinh ngày 20/3/2017 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 12/6/2021 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 4 Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị Nguyễn Thị X được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002585 ngày 12/11/2025.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị X có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Văn H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND Khu vực 3 – Nghệ An; - THA dân sự tỉnh Nghệ An; - UBND xã Quảng Châu; - Các đương sự; - Lưu HS, lưu VP. 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |