- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ca Thị Thanh N - Hà S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Ca Thị Thanh N được ly hôn với ông Hà S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – KHÁNH HOÀ TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2026/HNGĐ-ST Ngày 04 - 9 - 2026 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Pi Năng Thị Thượng
Bà Bùi Tuấn Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Trương Ngọc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Khánh Hòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân – gia đình sơ thẩm thụ lý số: 179/2026/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số: 42/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ca Thị Thanh N, sinh năm 1992; Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn: Ông Hà S, sinh năm 1989; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/5/2026, bản tự khai ngày 01/6/2026 và quá trình làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Ca Thị Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hà S kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện K (nay là UBND xã N), tỉnh Khánh Hoà. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có 03 con chung tên Hà Thị Nguyệt Q, sinh ngày 25/9/2011, Hà Duy H, sinh ngày 29/12/2014 và Hà Thị Nguyệt A, sinh ngày 17/12/2020. Tuy nhiên, thời gian gần đây giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Từ những mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, ông S bỏ nhà chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ không chăm lo cho con cái nên bà và ông S không còn sống chung từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Nay không thể kéo dài tình trạng hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hà S. Về con chung, sau khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ca Thị Thanh N khai không có.
* Đối với bị đơn ông Hà S: Tòa án nhân dân khu vực 3 – Khánh Hoà đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông S không đến Tòa án để làm việc và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà N nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Khánh Hoà, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn ông Hà S đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình vắng mặt tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông S là đúng theo quy định của pháp luật.
Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung: Xét thấy các con chung của bà N và ông S hiện đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị HĐXX giao các con chung Hà Thị Nguyệt Q, sinh ngày 25/9/2011, Hà Duy H, sinh ngày 29/12/2014 và Hà Thị Nguyệt A, sinh ngày 17/12/2020 cho nguyên đơn bà Ca Thị Thanh N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có nên không xét. Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà nguyên đơn bà Ca Thị Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Hà S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; do đó Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hoà tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ca Thị Thanh N và ông Hà S kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K (nay là UBND xã N), tỉnh Khánh Hoà và đã được UBND cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01, ngày 02/7/2010. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông S là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa bà N và ông S xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông S thiếu trách nhiệm với gia đình, không chăm lo cho con cái. Từ những mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, ông S bỏ về sống cùng cha mẹ nên bà N và ông S không còn sống chung từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn, do đó mâu thuẫn giữa bà N và ông S đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ca Thị Thanh N đối với ông Hà S.
Về con chung: Bà Ca Thị Thanh N và ông Hà S có 03 con chung Hà Thị Nguyệt Q, sinh ngày 25/9/2011, Hà Duy H, sinh ngày 29/12/2014 và Hà Thị Nguyệt A, sinh ngày 17/12/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Sau khi bà N và ông S không còn sống chung cho đến nay, các con chung vẫn đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Q, cháu H có nguyện vọng sau khi ly hôn xin được ở với mẹ. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con phát triển tốt cả về tinh thần lẫn thể chất. Các con chung của bà N và ông S hiện đang sống ổn định cùng bà N. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao các cháu Hà Thị Nguyệt Q, Hà Duy H và Hà Thị Nguyệt A cho bà Ca Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án bà Ca Thị Thanh N không yêu cầu ông Hà S cấp dưỡng. Ý kiến của bà N là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX quyết định tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông S. Quá trình nuôi con nếu gặp khó khăn, bà N có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con chung.
Về tài sản chung: Bà Ca Thị Thanh N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Bà Ca Thị Thanh N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
Về án phí: Bà Ca Thị Thanh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Ca Thị Thanh N được ly hôn với ông Hà S.
2. Về con chung: Giao các con chung Hà Thị Nguyệt Q, sinh ngày 25/9/2011, Hà Duy H, sinh ngày 29/12/2014 và Hà Thị Nguyệt A, sinh ngày 17/12/2020 cho bà Ca Thị Thanh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Ca Thị Thanh N không yêu cầu ông Hà S cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Bà Ca Thị Thanh N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
4. Về nợ chung: Bà Ca Thị Thanh N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.
5. Về án phí: Bà Ca Thị Thanh N phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0004521 ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Ca Thị Thanh N đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo: Bà Ca Thị Thanh N, ông Hà S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa - VKSND khu vực 3 - Khánh Hoà; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hoà; - Phòng THADS khu vực 3 - Khánh Hoà; - UBND xã Cầu Bà, huyện Khánh Vĩnh (nay là UBND xã Nam Khánh Vĩnh), tỉnh Khánh Hoà (GCNKH số 04, quyển số 01, ngày 02/7/2010); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |