vanban.org

Bản án 57/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cư điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017:

1/ Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn D 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính tư ngày 05/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tuấn Dũng, Phùng Gia Huy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cư điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HSST
Ngày 04-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Đ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Minh K.

2. Bà Trần Thị Bích T – Cán bộ giáo dục.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc D – Thư ký Toà án nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh (quận G cũ).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh (quận G cũ) tham gia phiên toà: Bà Quách Diệp N.T- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 7 và ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: Số xx đường A, Thành phố Hồ Chí Minh Phường 5, quận G cũ) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 200/2025/HSST ngày 13/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2025/QĐXXST-HS ngày 30/6/2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số 450/2025/HSST-QĐ ngày 15/7/2025 đối với các bị cáo:

1/ Bùi Tuấn D. Sinh năm 2004, tại Thành phố Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: Số xx, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số xx, Thành phố Hồ Chí Minh (phường T cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang S và bà Bùi Thúy H; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 05/11/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

2/ Phùng Gia H. Sinh ngày 07/11/2007, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số xx, Thành phố Hồ Chí Minh (Phường x, quận B cũ); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Ngọc A và bà Châu Ngọc N; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 05/11/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phùng Gia H: Ông Phùng Ngọc A (cha ruột) (Có mặt).

Địa chỉ: Số xx đường P, Thành phố Hồ Chí Minh (Phường x, quận B cũ).

- Người bào chữa của bị cáo Phùng Gia H: Ông Lê Văn T – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số xx đường D, Thành phố Hồ Chí Minh (Phường x, quận G cũ) (Có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh T.

Địa chỉ: Số x đường N, Thành phố Hồ Chí Minh (Phường x, quận G cũ) (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Tuấn D và Phùng Gia H là bạn be quen biết ngoài xã hội tư năm 2023, D và H đang ở cùng nhà với nhau tại địa chỉ số xx đường Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. D và H góp tiền với nhau để trả tiền thuê nhà (môi người góp một nửa). Vào khoảng đầu tháng 09 năm 2024 D và H bàn bạc thống nhất với nhau là cùng nhau góp tiền với nhau để mua ma tuý Cần sa bán lại. Tiền mua ma tuý Cần sa môi người se bo ra một nửa, khi nhận ma tuý Cần sa về thì cả 2 chia đôi số Cần sa để quản lý và khách của ai thì người đó bán và thu lợi riêng. Môi 01 gam, D và H bán cho khách với số tiền là 200.000 đồng, tiền ship là 30.000 đồng, tông cộng là 230.000 đồng. D và H thường cùng đi bán Cần sa cho khách (do cả hai có chung một chiếc xe mô tô). Ngày 29/10/2024, D và H môi người góp số tiền 3.600.000 đồng (tông cộng là 7.200.000 đồng) để mua Cần sa (môi người mua 50 gam Cần sa) với mục đích vưa sử dụng và bán lại cho người khác để thu lợi bất chính và được H đồng ý, H đưa cho D tiền mặt 1.520.000 đồng, cùng với chuyển khoản cho D thêm 1.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Techcombank của D. H còn nợ D 600.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ ngày 30/10/2024, D dùng điện thoại động số 0886674201 liên hệ với tài khoản “C” qua ưng dụng Telegram đặt mua 100 gam Cần sa, với số tiền 7.200.000 đồng và hen giao Cần sa và nhận tiền tại khu vực đầu hem x đường Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, có người liên hệ gọi điện thoại cho D kêu ra nhận Cần sa, thì D kêu H ra nhận và chia thành 31 gói nylon nho, môi gói ước lượng khoảng 01 gam và 02 gói nylon lớn (một gói ước lượng 50 gam, một gói ước lượng khoảng 04 gam). Trong lúc H đang chia nho Cần sa thì có tài khoản messenger tên “PV” liên hệ với D đặt mua 01 gam Cần sa với số tiền 230.000 đồng. D đồng ý và “PV” hen đến giao Cần sa và nhận tiền tại trước hem 86 đường số 27, Phường 6, quận G, thì D đồng ý. Sau khi H chia nho Cần sa, D lấy 01 gói Cần sa loại 01 gam cất giấu vào trong túi đeo trước ngực của D với mục đích mang đi bán cho “PV”, số Cần sa còn lại H cất giấu tất cả vào trong 01 túi giấy, rồi D mang số Cần sa này ra để ở baga xe mô tô biển số 59S2 – 552.61. Sau đó, D chở H cùng đi giao ma túy cho “PV”. Khi đi đến trước hem xx, Phường x, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì dưng xe lại để liên hệ điện thoại cho “PV” để bán Cần sa, thì bị Tô công tác, Công an Phường 6, quận G kiểm tra, phát hiện trên baga xe mô tô biển số 59S2 – 552.61 của D đang điều khiển có 01 túi giấy đựng 32 gói gói nylon chưa Cần sa (gồm 30 gói nho và 02 gói lớn). Đồng thời, kiểm tra phát hiện bên trong túi đeo trên người D có 01 gói nylon chưa Cần sa, nên Tô công tác đã tiến hành lập Biên bản tạm giữ, niêm phong toàn bộ vật chưng rồi đưa D, H cùng toàn bột vật chưng về Cơ quan Công an làm ro sau đó đưa D và H đên Cơ quan điều tra Công an quận G để xử lý.

Ngoài ra, D đã bán ma tuý Cần sa cho Phạm Hải Đ được 03 lần, cụ thể: Lần 1 vào ngày 30/09/2024 bán 04 gam Cần sa với số tiền 600.000 đồng; lần 2 và lần 3 vào các ngày 05/10/2024 và ngày 12/10/2024 bán môi lần 05 gam ma tuý Cần sa với số tiền là 800.000 đồng. Toàn bộ số Cần sa Đ mua của D thì Đ đã sử dụng hết.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy Đ, D và H đều có kết quả dương tính với Cần sa, phù hợp với lời khai có sử dụng Cần sa của Đ, H và D.

Vật chưng thu giữ:

- 01 gói niêm phong, bên trong có chưa 32 gói nylon chưa thảo mộc khô (m1), bên ngoài có chữ ký ghi tên Phùng Gia H và Bùi Tuấn D và hình dấu Công an Phường 6, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 gói niêm phong bên trong có 01 gói nylon chưa thảo mộc khô (m2). Bên ngoài có chữa ký ghi tên Phùng Gia H và Bùi Tuấn D và hình dấu Công an Phường x, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản Kết luận giám định số: 12982/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phong kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẩu (m1) = 81,08 gam; (m2) = 1,0090 gam, tất cả đều là Cần sa. (tông cộng: 82,089 gam.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0886674201; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số: 0793247xxx.

- 01 xe mô tô biển số: 59S2-552.61, số máy JA3GE-0239xxx; số khung: RLHJA36223EY135xxx.

Quá trình điều tra các bị cáo Bùi Tuấn D, Phùng Gia H đã thưa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 218/CT–VKS-GV ngày 12/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh (quận G cũ) đã truy tố các bị cáo Bùi Tuấn D, Phùng Gia H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh (quận G cũ) vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhe là các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng quy định người phạm tội dưới 18 tuôi đối với bị cáo Phùng Ngọc H.

Đề nghị xử phạt các bị cáo:

- Bùi Tuấn D tư 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

- Phùng Gia H tư 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Đề nghị miễn phạt bô sung; Đề nghị xử lý vật chưng:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phùng Gia H và Bùi Tuấn D và hình dấu Công an Phường x, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong có chưa ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 088667xxxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số: xxxx của Bùi Tuấn D và Phùng Gia H dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T 01 xe mô tô biển số: 59S2-xxx.xx, số máy JA3GE-0239xxx; số khung: RLHJA36223EY135xxx.

Người bào chữa của bị cáo Phùng Ngọc H trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhe đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, khi phạm tội bị cáo dưới tuôi nhận thưc pháp luật hạn chế để bị cáo có mưc án nhe nhất có thể.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận, các bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhe hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cư vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Luật sư. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh khu vực G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Tp. Hồ Chí Minh (quận G cũ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Tuấn D, Phùng Gia H tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chưng cư khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện các bị cáo đã thực hiện hành vi: Ngày 29/10/2024, Bùi Tuấn D và Phùng Gia H đã có hành vi góp tiền với nhau, môi người một nửa để mua Cần sa với tông khối lượng: 82,089 gam về bán lại cho người khác và để có Cần sa sử dụng cho bản thân. Ngày 30/10/2024, khi D và H đang trên đường đi bán ma tuý Cần sa cho tài khoản “PV” nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, vào các ngày 30/09/2024, ngày 05/10/2024 và ngày 12/10/2024 D đã bán ma tuý là Cần sa cho Đ 03 lần, mặc dù các lần bán ma túy cho Đ, D thu lợi riêng, tuy nhiên, hai bị cáo đã cùng bàn bạc thống nhất hành vi mua ma túy cất giấu nhằm mục đích bán lại cho người khác, bị cáo H là người khởi xướng rủ rê nên hành vi của các bị cáo là cùng thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra thu giữ của H và D 82,089 gam ma tuý là Cần sa. Đủ cơ sở xác định các bị cáo Bùi Tuấn D và Phùng Gia H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực X – Tp. Hồ Chí Minh (quận G cũ) đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến sưc khoe của người khác, ma túy còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Các bị cáo biết ro tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật rất nghiêm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài không qua lao động chân chính nên đã bất chấp, cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, tương xưng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khoi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhe theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Bị cáo Phùng Gia H khi phạm tội chưa đủ 18 tuôi nên áp dụng quy định đối với người phạm tội dưới 18 tuôi theo quy định tại điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

. Về hình phạt bô sung quy định tại khoản 5, Điều 251 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh của bị cáo Bùi Tuấn D nên miễn hình phạt bô sung cho bị cáo. Bị cáo Phùng Gia H chưa đủ 18 tuôi nên không áp dụng hình phạt bô sung theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự.

. Đối với hành vi sử dụng ma túy của các bị cáo Bùi Tuấn D, Phùng Gia H. Qua kiểm tra, D và H dương tính với ma tuý. Tuy nhiên, theo chưng cư, tài liệu và lời khai tại phiên tòa thể hiện việc sử dụng ma tuý cần sa là do môi bị cáo tự bo tiền ra mua riêng và tự sử dụng riêng 01 mình, D và H cả 2 không góp tiền mua ma tuý để cùng sử dụng và khi D sử dụng cần sa, H không biết và ngược lại nên hành vi của sử dụng ma tuý của D, H không đủ căn cư truy cưu tội “Tô chưc sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự.

. Đối với người sử dụng tài khoản Telegram tên “C” đã bán Cần sa cho Bùi Tuấn D, Phùng Gia H, do D và H khai không ro họ tên, nơi ở và chưa gặp mặt, không biết số điện thoại và “C” sử dụng nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau, nên D cũng không nhớ tài khoản ngân hàng của “C” nên không đủ có cơ sở để làm ro, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm ro khi nào có đủ căn cư se xử lý sau.

. Đối với Phạm Hải Đ mua Cần sa của Bùi Tuấn D để sử dụng, có kết quả xét nghiệm dương tính với Cần sa. Chưa đủ căn cư truy cưu trách nhiệm hình sự Cơ quan cảnh sát điều tra đã bàn giao một phần hồ sơ cùng đối tượng Đăng cho Công an Phường 6, quận G xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử không xét.

. Đối với đối tượng tên “PV” mua ma tuý Cần sa của D do chưa kịp giao ma tuý cho PV nên chưa xác định được để làm ro xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm ro khi nào có đủ căn cư se xử lý sau.

. Về xử lý vật chưng:

. Đối với 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phùng Gia H và Bùi Tuấn D và hình dấu Công an Phường x, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong có chưa ma túy còn lại sau giám định. Xét thấy, là ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, sim số: 0886674201; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số: 0793247798 của Bùi Tuấn D, Phùng Gia H dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

. Đối với 01 xe mô tô biển số: 59S2-552.61, số máy JA3GE-0239792; số khung: RLHJA36223EY135946. Kết quả xác minh xe do anh Ngô Đăng K đưng tên chủ sở hữu. Bùi Tuấn D khai xe trên thuê lại của cửa hàng xe mô tô TP, trên đường S, quận G và sử dụng làm phương tiện chở Phùng Gia H hoạt động mua bán Cần sa cho đến khi bị bắt giữ. Chị Nguyễn Thị Thanh T thưa nhận có cho D thuê xe trên, nguồn gốc xe mua của anh Nguyễn Viết C và anh Ngô Đăng K bằng hình thưc hợp đồng ủy quyền và đã được Công chưng hợp đồng tại văn phòng công chưng Dương thị Cẩm T, quận G và dùng để kinh doanh cho khách thuê lại. Chị T cũng đã làm đơn xin nhận lại xe, chị T không biết D sử dụng xe vào việc phạm tội nên trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Thanh T.

. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh (quận G cũ) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cư điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017:

1/ Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn D 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính tư ngày 05/11/2024.

- Căn cư điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017:

2/ Xử phạt bị cáo Phùng Gia H 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính tư ngày 05/11/2024.

- Căn cư Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

+ Tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phùng Gia H và Bùi Tuấn D và hình dấu Công an Phường 6, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong có chưa ma túy còn lại sau giám định.

+ Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số: 0886674201; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số: 0793247798.

+ Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T 01 xe gắn máy Honda blade biển số: 59S2-552.61, số máy JA3GE0239792; số khung: RLHJA3623EY135946.

(Theo Phiếu nhập kho vật chưng số 158/PNK ngày 25/3/2025 của Công an Thành phố Hồ Chí Minh khu vực G).

Buộc môi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày nhân được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ