- Tranh chấp gì? án hình sự — "TẤT HỮU LƯƠNG - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày: 23/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Hồng Hải
2/ Ông Lê Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký tòa án nhân dân
quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân T - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
TẤT HỮU LƯƠNG, sinh ngày 03 tháng 9 năm 2000 tại Thành phố Hồ
Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 107 Lô K, Chung cư N, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tất Quốc T1 và bà: Su Tú Q; Vợ, con: Không có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 10/3/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 10/3/2024, Tất Hữu L đang điều khiển xe gắn máy
biển số 67H1-778.66 lưu thông đến trước số A N, Phường A, quận T, thì bị Tổ tuần tra Công an P1, quận T kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang bên trong túi đựng đồ giao hàng, để giữa sàn xe máy do L đang điều khiển có 02 gói nylon chứa chất tinh thể mùa trắng. Tại Kết luận giám định số 3413/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon thu giữ của L là ma túy thể rắn, có tổng khối lượng 2,4197 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Tất Hữu L khai nhận: Số
ma túy mà công an thu giữ của L nói trên là của Trần Quang P, sinh năm 1999, số điện thoại 0836765832 đưa cho L tại trước quán T2, địa chỉ C B, Phường A, Quận H để mang giao cho khách ở đường N, quận T để lấy tiền công. P biết L làm việc giao hàng công nghệ nên chủ động đề nghị L đi giao ma túy cho P và nhận tiền công. L đồng ý và nhiều lần đi giao ma túy cho P được khoảng 01 năm. Hoạt động mua bán ma túy được thực hiện như sau: Khi cần giao ma túy cho khách thì P sẽ gọi điện thoại cho L đến nhà P tại khu vực đường P, Phường A, Quận H (L không nhớ chính xác địa chỉ) để lấy ma túy đã được P chuẩn bị sẵn trong các túi nylon nhỏ và mang đi giao cho khách theo địa chỉ P thông báo để nhận tiền công 200.000 đồng/lần từ số tài khoản 9836765832 tên Trần Quang P. L không biết rõ số lượng và loại ma túy, thông tin và lai lịch của người mua ma túy.
Xác minh sao kê tại ngân hàng T3 của L, L xác định đã nhận tiền công
giao ma túy từ P chuyển khoản vào các ngày 04/3/2024, 06/3/2024 và 09/3/2024 với tổng số tiền 600.000 đồng.
Tiến hành cho L xác định địa điểm giao ma túy, L không xác định được
địa điểm chính xác, chỉ nhớ tên đường và quận đã giao ma túy cho khách vào các ngày ngày 04/3/2024, 06/3/2024 và 09/3/2024.
Kết quả kiểm tra khu vực tại nơi L nhận ma túy từ P theo lời khai của L,
không có camera tại khu vực này.
Đối với Trần Quang P, kết quả xác minh tài khoản tại ngân hàng có thông
tin như sau: Trần Quang P, sinh năm 1999, căn cước công dân số 079099015036, Thường trú: 124/8 đường số D, chung cư Đ, Phường D, Quận C nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Tiến hành xác minh nơi cư trú của P tại địa chỉ số E đường D P, Phường A, Quận H và địa chỉ của vợ P tại số D B, Phường A, Quận H. Qua xác minh, P không thực tế cư trú tại 02 địa chỉ trên, đã bỏ đi khỏi địa phương. Tiến hành cho L nhận dạng hình ảnh Trần Quang P trong hồ sơ mở thẻ do ngân hàng cung cấp, L nhận dạng P đúng là người đưa ma túy cho L. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã tách hành vi 04 lần đưa ma túy cho Tất Hữu L mang đi bán để kiếm lời của Trần Quang P theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 4494/QĐ-ĐTTH ngày 27/12/2024.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon có 01 gói giấy, bên trong chứa 02 túi nylon màu đen chứa
tinh thể màu trắng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, có thẻ sim số 0933859921, bên
trong có nội dung trao đổi mua bán trái phép chất ma túy của Tất Hữu L và Trần Quang P.
- 01 xe máy hiệu Honda Vario biển số 67H1-778.66. Qua xác minh do Tất
Hữu Lương mượn của bạn là Đỗ Hoài N để sử dụng, N không biết L sử dụng xe trên để mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho Đỗ Hoài N vào ngày 26/7/2024 theo Quyết định xử lý vật chứng số 1411/QĐ-ĐTTH ngày 26/7/2024.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm
sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Tất Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngày 28/02/2025, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã trả hồ sơ cho Viện
kiểm sát nhân dân quận Tân Bình theo Quyết định số 08/2025/HSST-QĐ, yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Điều tra, làm rõ vai trò của đối tượng Trần Quang P, sinh năm 1999, căn cước công dân số 079099015036, địa chỉ: 1 đường số D, chung cư Đ, Phường D, Quận C có đúng là người nhiều lần cung cấp ma túy cho Tất Hữu L mang đi giao cho khách hay không? Từ đó có cơ sở truy tố đúng khung hình phạt với Tất Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngày 28/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có công văn số
194/VKS-HS giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Tất Hữu L tại cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 21 tháng 01 năm 2025 và hoàn trả hồ sơ cho Tòa án xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu
tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp
luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng
đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Tất Hữu L, Điều tra viên Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người
phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài, bị cáo Tất Hữu L khai đã nhiều lần nhận ma túy từ đối tượng Trần Quang P, sinh năm 1999 để đi giao cho khách lấy tiền công vào các ngày 04, 06 và 09/3/2024 (Phù hợp với sao kê tại tài khoản ngân hàng giữa bị cáo và P); Ngày 10/3/2024, bị cáo nhận 02 gói nylon chứa 2,4197 gam ma túy ở thể rắn, loại Ketamine mang đi giao cho khách tại khu vực quận T theo yêu cầu của P để nhận tiền công thì bị công an bắt quả tang, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng và
gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng, vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì động cơ tham lam, hám lợi mà bị cáo đã bất chấp tất cả, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo khai thu lợi tổng cộng 600.000 đồng từ
việc giao ma túy cho đối tượng P vào các ngày 04, 06 và 09/3/2024. Xét thấy đây là khoản thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon có 01 gói giấy, bên trong chứa 02 túi nylon màu đen chứa
tinh thể màu trắng là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, có thẻ sim số 0933859921 thu
giữ của bị cáo, xét thấy bị cáo dùng điện thoại trên vào việc phạm tội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi của đối tượng Trần Quang P đưa ma túy cho bị cáo đi giao cho khách để điều tra trong vụ án riêng nên cần giao chiếc điện thoại của bị cáo cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về hành vi của đối tượng Trần Quang P: Căn cứ biên bản bắt người
phạm tội quả tang, các bản tường trình, biên bản ghi lời khai của bị cáo, kết quả sao kê tài khoản ngân hàng cho thấy ngay từ khai bắt quả tang, bị cáo đã khai nhận bị cáo chỉ là người mang ma túy đi giao cho khách theo yêu cầu của Trần Quang P để lấy tiền công, phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng giữa bị cáo và Trần Quang P, kết quả nhận dạng, kết quả xác minh địa chỉ thường trú và nơi cư trú. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục truy tìm, điều tra làm rõ hành vi phạm tội của đối tượng Trần Quang P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Xử phạt bị cáo: Tất Hữu L 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua
bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2024.
[2] Buộc bị cáo Tất Hữu L nộp lại 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng để tịch
thu nộp ngân sách Nhà nước.
[3] Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon có 01 gói giấy, bên trong chứa 02 túi
nylon màu đen chứa tinh thể màu trắng.
- Giao Cơ quan điều tra Công an Thành phố H 01 điện thoại di động hiệu
Iphone 7 Plus, có thẻ sim số 0933859921.
(Tình trạng vật chứng theo như Biên bản bàn giao vật chứng số
71/BB/2025 ngày 06/3/2025 giữa Công an quận T và Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[4] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ
thẩm.
[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng
cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[6] Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục
truy tìm, điều tra làm rõ hành vi phạm tội của đối tượng Trần Quang P, sinh năm 1999, căn cước công dân số 079099015036, thường trú: 124/8 đường số D, chung cư Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh về hành vi nhiều lần cung cấp ma túy cho bị cáo Tất Hữu L mang đi giao cho khách theo yêu cầu của Trần Quang P.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Thiện |