- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM , TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện và ông Trần Thành Vân
- Thư ký phiên toà: bà Hà Thị Phương Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở UBND xã Chiềng Cang, huyện SM , Toà án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 07/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 17/3/2025 đối với bị cáo:
Quàng Văn L ; tên gọi khác: không, sinh năm 1990 tại huyện SM , tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Cang, xã Chiềng Cang, huyện SM , tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Quàng Văn T, đã chết và bà Quàng Thị Ph, đã chết; vợ là Tòng Thị Ph, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01 giờ 00 phút ngày 21/12/2024, tại bản Cang, xã Chiềng Cang, huyện SM , tỉnh Sơn La tổ công tác của Công an xã Chiềng Cang bắt quả tang Quàng Văn L cất giấu trái phép 01 gói ma túy, vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc, bên trong chứa 05 viên nén màu hồng (Le khai nhận là Hồng phiến).
Cùng ngày, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện SM đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Le, kết quả: 05 viên nén màu hồng thu của Le có tổng khối lượng là 0,47 gam. Sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu L1.
Kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,47 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Quàng Văn L khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 20/12/2024, Quàng Văn L đi bộ từ lán nương của gia đình tại bản Cang, xã Chiềng Cang, huyện SM , tỉnh Sơn La đi lên khu vực bản Co Đứa, xã Mường Sai, huyện SM , tỉnh Sơn La để tìm mua Hồng phiến về để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đi đến địa phận bản Co Đứa, xã Mường Sai thì gặp và hỏi mua ma túy một người đàn ông dân tộc Mông được 05 viên Hồng phiến gói trong giấy bạc với giá tiền 150.000đ. Sau khi mua được ma túy, Le cất gói ma túy trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về lán nương. Đến khoảng 01 giờ ngày 21/12/2024, thì có tổ công tác của Công an xã Chiềng Cang làm nhiệm vụ và phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu.
Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 07/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM đã truy tố bị cáo Quàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn L từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện SM , điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện SM , kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SM , không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM . Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 21/12/2024; Kết luận giám định số 77/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/12/2024 tại lán nương của gia đình thuộc bản Cang, xã Chiềng Cang, huyện SM bị cáo Quàng Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,47 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung bản cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 07/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện SM là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.
Vật chứng vụ án: Ma túy đã sử dụng hết làm mẫu giám định; gói giấy bạc và phong bì lưu hồ sơ vụ án.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai mua của một người dàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản Co Đứa, xã Mường Sai, SM vào ngày 20/12/2024 không biết tên địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện SM không có căn cứ để điều tra, cần chấp nhận. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin miễn án phí. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật, tội danh, hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện SM (02 bản); - Cơ quan thi hành án Hình sự Công an tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện SM ; - Người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mai |