- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Chane T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-12-2025 “V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Đáng
2. Bà Sơn Thị Thiêng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 05/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Chane T, sinh ngày 09/3/1998. Địa chỉ: Ấp S, xã N, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh ngày 15/3/1996. Địa chỉ: Ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2025, các lời khai cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Thạch Thị Chane T trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Vào năm 2019 chị T và anh T1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh cũ; nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cãi vã do anh T1 thay đổi tính tính không chăm lo cho gia đình và thường xuyên uống rượu, về nhà có lời lẻ xúc phạm chị, chị nhiều lần khuyên anh T1 thay đổi tính tình để lo gia đình nhưng anh T1 không thay đổi nên chị và anh T1 ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không hòa thuận được, không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn T1.
- Về nuôi con chung tên: Phạm Thị Kiều T2, sinh ngày 27/02/2020 chị T yêu cầu được nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn Phạm Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Quá trình giải quyết anh T1 không cung cấp chứng cứ và không có lời khai nộp cho Tòa án nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
+ Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử vụ án;
+ Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử vụ án.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Thạch Thị Chane T được ly hôn với anh Phạm Văn T1. Về con chung đề nghị giao chị T được nuôi con tên Phạm Thị Kiều T2, sinh ngày 27/02/2020. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung các đương sự không tranh chấp nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc chị T phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy chị Thạch Thị Chane T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn T1 là bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T1 theo quy định pháp luật.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Chane T tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Phạm Văn T1, sinh ngày 15/3/1996. Địa chỉ: Ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. [3] Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Thạch Thị Chane T và Phạm Văn T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị T và anh T1 là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa chị T và anh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau từ năm 2023 đến nay, không bên nào tạo điều kiện để hàn gắn lại. Chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn hạnh phúc, anh chị không còn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn T1. Anh T1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, biết được nội dung chị T tranh chấp nhưng anh không cung cấp chứng cứ, không có lời khai để nộp cho Tòa án xem xét; nhiều lần anh T1 không đến tham dự phiên hòa giải mà không có lý do nên không tiến hành hòa giải được và xét thấy việc anh T1 vắng mặt thể hiện không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với chị T.
Qua đó, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh T1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thạch Thị Chane T.
Về quyền nuôi con: Giữa chị T và anh T1 có một người con tên Phạm Thị Kiều T2, sinh ngày 27/02/2020, từ khi chị T, anh T1 ly thân đến nay con chung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng nên chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Xét thấy, chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và trong thời gian nuôi con, chị T đảm bảo cuộc sống của con ổn định về vật chất, tinh thần; phía anh T1 không có ý kiến tranh chấp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung tên Phạm Thị Kiều T2, sinh ngày 27/02/2020 cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống của con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy đơn khởi kiện và quá trình giải quyết chị T và anh T1 không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Xét thấy đơn khởi kiện và quá trình giải quyết chị T và anh T1 không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị T phải nộp 300.000 đồng theo quy định pháp luật.
Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Chane T.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Chane T ly hôn với anh Phạm Văn T1.
- Về quyền nuôi con: Giao chị Thạch Thị Chane T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Phạm Thị Kiều T2, sinh ngày 27/02/2020.
Anh Phạm Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị T và anh T1 không tranh chấp, không khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ nợ phải thu, phải trả: Quá trình giải quyết vụ án chị T và anh T1 không tranh chấp, không khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thạch Thị Chane T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005063 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long thu. Chị T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Thạch Thị Chane T và anh Phạm Văn T1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 13 - Vĩnh Long; - THADS khu vực 13 - Vĩnh Long; - UBND xã Nhị Trường; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Thoa |