vanban.org

Bản án 57/2025/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Long An Tuyên án 15/01/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S đối với bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị S “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Trần Thị L, Lê Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 57/2025/DS-PT
Ngày 15-01-2025
Về việc “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

2. Ông Đinh Tiền Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 735/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 752/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: số 01, đường H, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

Bị đơn:

1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1984 (có mặt).

2. Ông Lê Thanh P, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Lê Thanh P: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An (Theo Văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 7 năm 2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Trần Thị S trình bày: Vào ngày 30/8/2023 (ngày 15/7/2023 âm lịch), vợ chồng bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P có đến hỏi vay của bà số tiền 3.500.000.000 đồng và bà L, ông P nói để làm vốn buôn bán và hẹn 02 tháng sau là ngày 30/10/2023 sẽ trả, nhưng đến hẹn bà L, ông P không trả nợ theo thỏa thuận.

Nay bà yêu cầu bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P liên đới trả cho bà số gốc là 3.500.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,65%/tháng.

Bị đơn bà Trần Thị L đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lê Thanh P trình bày: Bà thừa nhận năm 2018 vợ chồng bà có vay của bà Trần Thị S số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng và sau đó vợ chồng bà có vay của bà S nhiều lần nên số nợ là 1.100.000.000 đồng, mỗi tháng bà có trả lãi cho bà S bằng tiền thuốc và thức ăn nuôi cá. Ngoài ra, vợ chồng bà có vay của bà S số tiền 700.000.000 đồng lãi ngày. Bà xác định chỉ nợ bà Trần Thị S tổng cộng tiền gốc là 1.800.000.000 đồng nhưng bà S cộng dồn gốc và lãi nên vợ chồng bà mới viết biên nhận cho bà Trần Thị S số tiền 3.500.000.000 đồng. Nay bà đồng ý liên đới với ông Lê Thanh P trả cho bà Trần Thị S số tiền gốc 1.800.000.000 đồng và xin bà Trần Thị S giảm lãi cho bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 280, 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 17, 27, 37 luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S đối với bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị S số tiền gốc 3.500.000.000 đồng và tiền lãi là 333.025.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25/9/2024, bà Trần Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, đồng ý trả cho bà Trần Thị S số tiền gốc 1.800.000.000 đồng và xin giảm tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút yêu cầu kháng cáo, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và xác định không cung cấp thêm chứng cứ mới.

Bà Trần Thị S trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị L, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bà Trần Thị L trình bày: Xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu như đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ vào “Biên nhận” ngày 15/7/2023 có chữ ký của bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P thể hiện ông P, bà L có thiếu nợ tiền của bà S số tiền 3.500.000.000 đồng. Bị đơn bà Trần Thị L cũng thừa nhận bà và ông P có ký nhận nợ với bà Trần Thị S biên nhận số tiền 3.500.000.000 đồng, bà L cho rằng chỉ có 1.800.000.000 đồng tiền gốc, còn 1.700.000.000 đồng là tiền lãi nhưng bà L không có chứng cứ chứng minh, mặt khác bà Trần Thị S cũng không thừa nhận biên nhận ngày 15/7/2023 là có gốc và lãi nên lời trình bày của bà L là không có căn cứ.

Về yêu cầu tính lãi: Bà S yêu cầu tính lãi từ ngày thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm nhưng theo biên nhận ngày 15/7/2023 không thể hiện thời hạn trả nên được xem đây là hợp đồng vay không có thời hạn. Do đó, Tòa án sơ thẩm tính lãi đối với số tiền vay kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,65%/tháng là phù hợp.

Từ những căn cứ trên: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Trần Thị L làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Xét đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị L:

Bà Trần Thị S yêu cầu bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P liên đới trả số tiền gốc là 3.500.000.000 đồng và cung cấp chứng cứ là “Biên nhận” ngày 15/7/2023 có chữ ký của bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P có nội dung “Tôi Trần Thị L có mượn của bà Trần Thị S số tiền 3.500.000.000đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng chẳn). Bà L cũng thừa nhận bà và ông P có ký nhận nợ với bà S biên nhận số tiền 3.500.000.000 đồng, nhưng bà cho rằng bà chỉ vay của bà S số tiền 1.800.000.000 đồng, còn 1.700.000.000 đồng là tiền lãi, sau đó bà S cộng vào nhưng bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh có việc cộng tiền lãi vào nợ gốc, bà S cũng không thừa nhận biên nhận ngày 15/7/2023 là gồm cả tiền gốc và tiền lãi nên lời trình bày của bà L là không có căn cứ.

Về yêu cầu tính lãi: các đương sự thống nhất lãi suất 3%/tháng và do đây là hợp đồng vay không có thời hạn trả, nên bà S yêu cầu tính lãi từ ngày Tòa án thụ lý vụ án ngày 18/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 1,65%/tháng là phù hợp.

Từ những nhận định trên: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bà Trần Thị L là không có căn cứ, nên không chấp nhận.

Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 288, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 17, Điều 27, Điều 37 luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S đối với bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

1.1. Buộc bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị S số tiền gốc 3.500.000.000 đồng và tiền lãi là 333.025.000 đồng.

1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc bà Trần Thị L, ông Lê Thanh P phải liên đới chịu 108.660.000 đồng tiền án phí.

2.2. Hoàn trả cho bà Trần Thị S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 54.250.000 đồng theo biên lai thu số 0002026 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0002164 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ