vanban.org

Bản án 57/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Tuyên án 31/10/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: bị cáo Lê Ngọc Hoàng V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/10/2024). Giao bị cáo Lê Ngọc Hoàng V cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Hoàng V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày: 31-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vĩnh Lâm

2. Bà Võ Thị Vân Khánh

- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Kim Nguyên– Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Lê Ngọc Hoàng V; sinh ngày: 24/12/1978; nơi sinh: tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con của ông Lê Văn A (đã chết) và bà Trần Kim S (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Phượng L, sinh năm 1983; con: có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: ngày 18/02/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” với số tiền 750.000 đồng. Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 157/LC-ĐTTH ngày 30/6/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Long An, kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2024 đến ngày 30 tháng 10 năm 2024; bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị N (đã chết):

+ Ông Bùi Văn B, sinh năm: 1976; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

+ Bà Bùi Thị Trúc L1, sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1977; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/4/2024, Lê Ngọc Hoàng V đến nhà ông Đỗ Văn K ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An để làm thuê. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông K tổ chức uống bia tại nhà của ông K, tại đây V tham gia uống bia đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì nghỉ, sau đó V điều khiển xe mô tô biển số 62H8-1026 lưu thông trên đường B từ Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An đi xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để uống cà phê. Đến khoảng 15 giờ 10 phút, khi V điều khiển xe mô tô lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An, do đã uống nhiều bia, buồn ngủ, không chú ý quan sát, nên đã đụng vào bà Nguyễn Thị N đang đứng sát mép lề đường bên phải để tưới cây, cùng chiều với xe mô tô của V. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị N bị thương nặng, sau đó tử vong.

Tại Kết luận giám định tử thi số 354/KLGĐTT-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Nguyễn Thị N tử vong do chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định độc chất số HST 187/KLGĐĐC-TTPY.2024 ngày 21/5/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H kết luận: nồng độ Ethanol trong máu toàn phần của Lê Ngọc Hoàng V là 82,16mg/100ml.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa rộng 3m, ở giữa mặt đường không có vạch kẻ đường phân chia đường thành hai chiều riêng biệt. Các dấu vết, phương tiện được đánh số thứ tự như sau: (1) là mảnh vỡ của chóa đèn chiếu sáng; (2) là mảnh vỡ của kẹp tóc; (3) là trụ đá; (4) là xe mô tô biển số 62H8-1026; (5) là chiếc dép màu đen bên trái; (6) là vùng dung dịch màu đỏ; (7) là chiếc dép màu đen bên phải; (8) là chiếc dép màu hồng bên phải. Chọn mép đường bên phải theo hướng từ xã T đi quốc lộ N làm mép đường chuẩn; chọn trụ cổng hàng rào bên phải (nhìn hướng từ mép đường bên trái qua mép đường bên phải) nằm trên mép đường bên phải của nhà ông Bùi Hồng L2, sinh năm: 1948, địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An làm điểm mốc đo đạc. Các dấu vết, phương tiện tại hiện trường đã đánh số thứ tự được mô tả cụ thể như sau: (1) mảnh vỡ của chóa đèn chiếu sáng, không rõ hình, có kích thước 0,09m x 0,16m, từ tâm (1) đo đến điểm mốc là 14,30m, và đo đến mép đường chuẩn là 0,60m, và đo đến tâm (2) là 3,13m; (2) là mảnh vỡ của kẹp tóc, không rõ hình, từ tâm (2) đo vào mép đường chuẩn là 0,30m, và đo đến tâm (3) là 1,70m; (3) trụ đá được cắm vào đất trên mép đường bên phải, bị gãy lìa ngang mặt đất, phần mặt trụ đá cạnh vuông có kích thước 0,10m, từ tâm (3) đo vào mép đường chuẩn là 1,05m, đồng thời đo đến tâm bánh sau (4) là 2,10m; (4) là xe mô tô biển số 62H8-1026, bị ngã nghiêng bên trái, nằm ngoài mép đường chuẩn, từ tâm bánh trước (4) đo vào mép đường chuẩn là 1,20m, từ tâm bánh sau (4) đo vào mép đường chuẩn là 0,30m, và đo đến tâm (5) là 0,80m; (5) là chiếc dép màu đen bên trái, nằm ngoài mép đường chuẩn, từ tâm (5) đo vào mép đường chuẩn là 0,95m, đồng thời đo đến tâm (6) là 3m; (6) là vùng dung dịch màu đỏ, có kích thước 0,30m x 0,20m, từ tâm (6) đo vào mép đường chuẩn là 2m, và đo đến tâm (7) là 4,65m; (7) là chiếc dép màu đen bên phải, nằm ngoài mép đường chuẩn, từ tâm (7) đo vào mép đường chuẩn là 1,40m, và đo đến tâm (8) là 3m; (8) là chiếc dép màu hồng bên phải, nằm trên mặt đường, từ tâm (8) đo vào mép đường chuẩn là 1,65m.

Kết quả khám nghiệm dấu vết trên phương tiện xe mô tô biển số 62H8-1026 như sau: cụm đèn chiếu sáng bị hư hỏng hoàn toàn, rời khỏi vị trí ban đầu; chắn bùn trước bị trầy xướt, bị dính sơn màu xanh; ốp thân xe bên trái rời khỏi vị trí ban đầu; gác chân trước bên trái cong về sau.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSTT, ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo đã gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ Luật hình sự; đề nghị xử phạt: bị cáo Lê Ngọc Hoàng V 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Vật chứng trong vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật sình sự; đề nghị hoàn trả cho bị cáo 01 (một) xe mô tô biển số 62H8-1026; nhãn hiệu: BOSS, số máy: VMESE1-217891, số khung: SB10AD4H-217938 do anh Đỗ Văn H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, năm 2019, anh H đã bán và giao giấy chứng nhận đăng ký xe cho Lê Ngọc Hoàng V; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh vỡ của chóa đèn chiếu sáng, không rõ hình, có kích thước 0,09m x 0,16m; 01 (một) mảnh vỡ của kẹp tóc màu đen; 01 (một) chiếc dép màu đen bên trái; 01 (một) chiếc dép màu đen bên phải; 01 (một) chiếc dép màu hồng bên phải là vật chứng của vụ án.

Đề nghị giao trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 790165033673 mang tên Lê Ngọc Hoàng V do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 01/02/2016 có giá trị đến không thời hạn.

Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Lê Ngọc Hoàng V đã thỏa thuận bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại với số tiền 120.000.000 đồng. Hiện nay người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự, về phần trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc Hoàng V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: bị cáo Lê Ngọc Hoàng V có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 30/4/2024, V điều khiển xe môtô biển số 62H8-1026 trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn là 82,16mg/100ml lưu thông trên đường bờ Tây Kênh Bùi Mới hướng từ Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An đi xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến đoạn đường thuộc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; do đã uống nhiều bia, buồn ngủ, không chú ý quan sát nên V đã đụng vào bà Nguyễn Thị N đang đứng sát mép lề đường bên phải để tưới cây, cùng chiều với xe mô tô của V làm cho bà N tử vong.

Xét thấy Lê Ngọc Hoàng V có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Lê Ngọc Hoàng V đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Văn bản hợp nhất Luật giao thông đường bộ số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019 và gây hậu quả chết 01 (một) người. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, trật tự công cộng mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. [5] Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân: ngày 18/02/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” với số tiền 750.000 đồng. [5.1] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 120.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo có con tên Lê Tiểu T mắc bệnh hội chứng thận hư nên bị cáo còn được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lẽ ra cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm đảm bảo răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ của bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản trong khi con của bị cáo là cháu Lê Tiểu T bị bệnh thận hư nhiều năm, cần khám và điều trị thường xuyên, định kỳ hàng tháng. Nếu buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ khiến gia đình bị cáo thêm khó khăn, cháu Lê Tiểu T không có điều kiện trị bệnh. Ngoài ra, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự; bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính nhưng tính đến thời điểm phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và hướng dẫn số 01/2022//NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng án treo cũng có thể giúp bị cáo tự cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo có cơ sở nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nhất định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền 120.000.000 đồng. Hiện nay, người đại diện hợp pháp của bị không có yêu cầu gì thêm nên đề cập giải quyết. [9] Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử lý vật chứng như sau:

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 62H8-1026; nhãn hiệu: BOSS, số máy: VMESE1-217891, số khung: SB10AD4H-217938 là tài sản hợp pháp của bị cáo, do bị cáo mua của anh Đỗ Văn H vào năm 2019, anh H đã giao giấy chứng nhận đăng ký xe do anh H đứng tên giấy chứng nhận đăng ký cho Lê Ngọc Hoàng V. Bị cáo phạm tội do vô ý nên giao trả xe cho bị cáo.

Đối với 01 (một) mảnh vỡ của chóa đèn chiếu sáng, không rõ hình, có kích thước 0,09m x 0,16m, không có giá trị sử dụng và 01 (một) chiếc dép màu đen bên trái, 01 (một) chiếc dép màu đen bên phải của bị cáo; 01 (một) mảnh vỡ của kẹp tóc màu đen và 01 (một) chiếc dép màu hồng bên phải là di vật của bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 790165033673 mang tên Lê Ngọc Hoàng V do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 01/02/2016 có giá trị đến không thời hạn, cần giao trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Lê Ngọc Hoàng V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/10/2024).

Giao bị cáo Lê Ngọc Hoàng V cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Giao trả cho Lê Ngọc Hoàng V 01 (một) xe mô tô biển số 62H8-1026; nhãn hiệu: BOSS, số máy: VMESE1-217891, số khung: SB10AD4H-217938.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh vỡ của chóa đèn chiếu sáng, không rõ hình, có kích thước 0,09m x 0,16m; 01 (một) mảnh vỡ của kẹp tóc màu đen; 01 (một) chiếc dép màu đen bên trái; 01 (một) chiếc dép màu đen bên phải; 01 (một) chiếc dép màu hồng bên phải.

Hiện các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày ………..

- Giao trả cho Lê Ngọc Hoàng V 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 790165033673 mang tên Lê Ngọc Hoàng V do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 01/02/2016 có giá trị đến không thời hạn. Hiện vật chứng đang tạm giữ kèm theo hồ sơ của vụ án. 4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lê Ngọc Hoàng V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ