- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÝ GÀ THINH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Gà T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Công Nghiệp
2. Ông Khoàng Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Gà T sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại xã La Pán Tẩn, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Nơi thường trú: Bản Ngải Thầu 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: 011070003341; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Nủ T sinh năm 1933 (đã chết) và con bà Hảng Thị B sinh năm 1934 (đã chết); Bị cáo Lý Gà T có vợ tên là Hảng Thị V sinh năm 1971. Có 10 con, lớn nhất 30 tuổi, nhỏ nhất 11 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08 tháng 01 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27 tháng 8 năm 2020 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo Lý Gà T bắt tạm giữ từ ngày 29 tháng 01 năm 2024 đến ngày 06 tháng 02 năm 2024, tạm giam từ ngày 06 tháng 02 năm 2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Gà T: Bà Nguyễn Thị Lan trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2024 bị cáo Lý Gà T đi bộ từ nhà ở bản Ngải Thầu 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ đi lên khu vực Mốc 56 gần biên giới nước Việt Nam – Lào thuộc bản Huổi Dạo, xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi Lý Gà T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn này có ma túy bán. Bị cáo Lý Gà T đã mua được của ông ta 01(một) gói Heroine và 01(một) gói Methamphetamine với số tiền là 200.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Lý Gà T cầm trên tay trái đi bộ về nhà. Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 01 năm 2024 bị tổ công tác Công an xã Vàng Đán phối hợp Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine là 7,18 gam và khối lượng Methamphetamine là 1,67 gam thu giữ của Lý Gà T.
Bản kết luận giám định số: 365/KL-KTHS ngày 04 tháng 02 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lý Gà T có khối lượng M1: 7,18 gam chất bột màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroine và M2: 1,67 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
- Hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng kèm theo.
Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSNP ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Lý Gà T để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lý Gà T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Gà T không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Lý Gà T mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; đề nghị không khoản 5 Điều 249 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lý Gà T nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 08 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2024 bị cáo Lý Gà T đi bộ từ nhà ở bản Ngải Thầu 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ đi lên khu vực Mốc 56 gần biên giới nước Việt Nam – Lào thuộc bản Huổi Dạo, xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi Lý Gà T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn này có ma túy bán. Bị cáo Lý Gà T đã mua được của ông ta 01(một) gói Heroine và 01(một) gói Methamphetamine với số tiền là 200.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Lý Gà T cầm trên tay trái đi bộ về nhà. Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29 tháng 01 năm 2024 bị tổ công tác Công an xã Vàng Đán phối hợp Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lý Gà T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.Tổng hai chất ma túy có khối lượng là 8,85 gam.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Lý Gà T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án rất nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Ngày 08 tháng 01 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27 tháng 8 năm 2020 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án, đến nay đã được xóa án tích.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lý Gà T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lý Gà T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; HĐXX xét thấy có căn cứ áp dụng. Đề nghị HĐXX xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán Heroine và Methamphetamine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mẫu vật cón lại sau giám định có khối lượng: M1: 6,9 gam Heroine và: M2: 1,51 gam Methamphetamine được cho vào 02 (hai) túi nilon màu trắng và tòan bộ bao bì niêm phong.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Lý Gà T có giấy chứng nhận hộ nghèo do UBND xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ cấp. Ngày 14 tháng 6 năm 2024 bị cáo Lý Gà T đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Gà T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Gà T: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29 tháng 01 năm 2024.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mẫu vật cón lại sau giám định có khối lượng: M1: 6,9 gam Heroine và: M2: 1,51 gam Methamphetamine được cho vào 02 (hai) túi nilon màu trắng và tòan bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Lý Gà T. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lý Gà T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 6 năm 2024).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Nậm Pồ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT, NTG Công an huyện Nậm Pồ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Nậm Pồ; - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Nậm Pồ; - Bị cáo; Người bào chữa; - Chi cục THADS huyện Nậm Pồ; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên Khoàng Văn Sơn Hà Công Nghiệp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Giàng A Bách |