- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Trần Thị Y- bị đơn: Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn T về việc cấp dưỡng nuôi con.
- Căn cứ chính? Quyết định số 04/2024/QĐ-UBND Quy định điều kiện tách thửa đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia nh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:57/2024/HNGĐ-PT Ngày:05/9/2024 V/v ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Tuyết Linh
Bà Nguyễn Ái Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 8 và ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia nh sơ thẩm số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 389/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các ương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Y, sinh năm 1990 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn X, sinh năm 1938 (Vắng mặt);
2. Bà Huỳnh Thị E, sinh năm 1948 (Vắng mặt);
3. Anh Trần Thanh P, sinh năm 1976 (Vắng mặt);
4. Chị Lê Thị K, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
5. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1976 (Vắng mặt);
6. Chị Trần Thị H, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
7. Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
8. Anh Trần Văn C, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
9. Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1985 (Vắng mặt);
10. Chị Trần Thị Thanh N1, sinh năm 2005 (Vắng mặt);
11. Chị Trần Thị M, sinh năm 1976 (Vắng mặt);
12. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Cùng ịa chỉ: Ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị ơn Nguyễn Văn T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị Y trình bày: Chị và anh T xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2008, có ăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C. Quá tr nh chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính t nh không hợp nhau, anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Nhận thấy, mục ích hôn nhân không ạt ược, t nh cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn ề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu ược trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.
- Về cấp dưỡng: Chị Y yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 ồng (Mỗi cháu 1.000.000 ồng) cho ến khi 02 con chung ủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Chị cho rằng trong quá tr nh chung sống, chị và anh T có tài sản chung gồm: 12 cây mai vàng, 01 dàn máy Karaoke, 01 chiếc xe ba gát, 01 chiếc xe hon da loại exciter, 01 chiếc xe hon da loại TAURUSSR, 01 căn nhà và ất có diện tích khoảng 108 m2 tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nguồn gốc mua của ông Trần Văn X và bà Huỳnh Thị E vào tháng 11 năm 2021 chưa làm thủ tục sang tên và 1.000 m2 ất trồng mít tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nguồn gốc nhận chuyển nhượng của anh chồng tên Nguyễn Văn H3 và hiện do cha chồng là ông Nguyễn Văn S ứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng chị. Khi ly hôn chị Y yêu cầu chia các tài sản chung này như sau:
+ Chị Y xin nhận hiện vật là 01 căn nhà và ất có diện tích 108 m2 tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 02 cây mai vàng và 01 chiếc xe máy hiệu TAURUSSR. Còn 01 dàn máy Karaoke, 01 chiếc xe ba gác, chị Y xin nhận ½ giá trị bằng tiền.
+ Chị Y giao cho anh T 02 cây mai vàng và 01 chiếc xe máy Exciter.
+ Phần ất có diện tích khoảng 1.000 m2 trồng mít tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Chị Y ồng ý giao cho anh T và yêu cầu nhận ½ giá trị tài sản.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 20/7/2023, chị Y có ơn xin rút lại yêu cầu chia phần ất có diện tích khoảng 1.000 m2 tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 08 cây mai vàng ang trồng trên phần ất này; 01 chiếc xe máy hiệu TAURUSSR.
Ngày 26/01/2024, chị Y có ơn xin thay ổi yêu cầu khởi kiện như sau: Chị Y yêu cầu chia tài sản chung là 01 căn nhà có diện tích 62,4 m2 trên phần ất có diện tích 96,8 m2 thuộc một phần thửa ất số 1034, tờ bản ồ số 01, diện tích 899 m2 tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; 04 cây mai vàng trên phần diện tích ất 96,8 m2. Chị Y yêu cầu ược nhận hiện vật là nhà, ất và 02 cây mai vàng. Chia cho anh T 02 cây mai vàng ồng thời chị sẽ hoàn trả ½ giá trị nhà và ất cho anh T theo Biên bản ịnh giá ngày 02/8/2023 của Hội ồng ịnh giá. Chị Y1 xin rút lại yêu cầu chia tài sản là 01 dàn máy Karaoke, 01 chiếc xe ba gác và 01 chiếc xe máy Exciter.
Chị thống nhất với bản ồ ịa chính khu ất trích o ngày 08/8/2023; Biên bản xem xét, thẩm ịnh tại chỗ ngày 02/8/2023 và giá trị tài sản theo biên bản ịnh giá ngày 02/8/2023.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
- Về thời gian kết hôn, con chung như chị Y tr nh bày là úng. Trong cuộc sống vợ chồng cũng có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nay chị Y xin ly hôn anh ồng ý.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012. Khi ly hôn, anh ồng ý giao 02 con chung cho chị Y nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Anh không ồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
- Về tài sản chung: Anh thống nhất chia tài sản chung là 01 căn nhà có diện tích 62,4 m2 trên phần ất có diện tích 96,8 m2 nằm trong thửa ất số số 1034, tờ bản ồ số 01 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; 04 cây mai vàng trên phần diện tích ất 96,8 m2. Anh yêu cầu ược nhận hiện vật là nhà, ất và 02 cây mai vàng. Chia cho chị Y 02 cây mai vàng ồng thời anh sẽ hoàn trả ½ giá trị nhà và ất cho chị Y theo Biên bản ịnh giá ngày 02/8/2023 của Hội ồng ịnh giá.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân gia nh thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang áp dụng Điều 5, khoản 1 Điều 28, iểm a khoản 1 Điều 35, iểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, iểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38, Điều 39, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia nh năm 2014; Điểm a, b khoản 5 và iểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đ nh chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y về việc yêu cầu chia tài sản chung là phần ất có diện tích khoảng 1.000 m2 tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 08 cây mai vàng ang trồng trên phần ất này; 01 chiếc xe máy hiệu TAURUSSR; 01 dàn máy Karaoke, 01 chiếc xe ba gác và 01 chiếc xe máy Exciter.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Văn T thuận t nh ly hôn với nhau.
2.2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012 cho chị Trần Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh T ược quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai ược quyền ngăn cản.
- Về cấp dưỡng: Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012 mỗi tháng 2.000.000 ồng. Thời hạn cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho ến khi cháu H1 và cháu H2 ủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị Y có ơn yêu cầu thi hành án nếu anh T chậm thi hành án ối với số tiền trên th còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
2.3. Về tài sản chung: Xác ịnh tài sản chung của chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Văn T là phần ất trồng cây lâu năm có diện tích 96,8 m2 và 01 căn nhà có diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1034, tờ bản ồ số 01, diện tích 899 m2 (Nay là thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17) tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 04 cây mai vàng trên ất.
- Chia cho chị Y trực tiếp quản lý, sử dụng và ịnh oạt phần ất trồng cây lâu năm có diện tích 96,8 m2 (Phần ký hiệu số “1” kèm theo bản ồ ịa chính khu ất ngày 08/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng ăng ký ất ai huyện C) và 01 căn nhà có kết cấu: Mái tôn, cột kèo thép, vách tôn, nền xi măng + nền gạch ceramic 500 x 500 + nền ất, diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 02 cây mai vàng trên ất. Phần ất có tứ cận sau:
+ Phía Đông giáp ường nhựa;
+ Phía Tây giáp phần ất còn lại của thửa ất số 1;
+ Phía Nam giáp phần ất còn lại của thửa ất số 1;
+ Phía Bắc giáp ất của Nguyễn Xuân P1.
(Có sơ ồ kèm theo)
- Chia cho anh T 02 cây mai vàng trên phần ất có diện tích 96,8 m2 thuộc thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Buộc chị Y có nghĩa vụ hoàn lại cho anh T ½ giá trị căn nhà và ất là 88.696.000 ồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày anh T có ơn yêu cầu thi hành án nếu chị Y chậm thi hành án ối với số tiền còn nợ th còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
Chị Y có quyền liên lệ với các cơ quan có thẩm quyền ể ăng ký kê khai và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy ịnh pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả lại cho chị Trần Thị Y ½ số tiền o ạc, xem xét thẩm ịnh tại chỗ và ịnh giá tài sản tranh chấp là 2.227.000 ồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của ương sự.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, bị ơn Nguyễn Văn T có ơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm số 69/2024/HNGĐ- ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo hướng: giao con chung tên Nguyễn Quốc H2 sinh ngày 26/11/2012 cho chị Trần Thị Y nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 cho anh T nuôi dưỡng; về căn nhà th giao cho anh T tiếp tục quản lý, sử dụng, anh T ồng ý hoàn lại ½ giá trị cho chị Y.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên ơn có thay ổi yêu cầu khởi kiện ối với vệc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Y chỉ yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con ối với cháu Nguyễn Quốc H2, mức cấp dưỡng 1.000.000 ồng/ tháng. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con ối với con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1; Tài sản chung th chị Y yêu cầu nhận tài sản bằng hiện vật là căn nhà cùng 02 cây mai; chị Y ồng ý thối chia trị giá tài sản chung bằng tiền cho anh T là 88.696.400 ồng; Bị ơn Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, anh T xin nuôi 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung th anh T xin nhận chia tài sản bằng hiện vật và thối chia bằng tiền cho chị Y. Chị Y và anh T cùng thỏa thuận, giá trị tài sản chung của vợ chồng là 177.392.800 ồng, anh T xin nhận bằng hiện vật và thối chia giá trị cho chị Y 88.696.400 ồng . Chị Y và anh T cùng ồng ý tại phiên tòa phúc thẩm với nội dung, trường hợp Tòa án chia căn nhà cho ai th người ó ược toàn quyền thỏa thuận với gia nh ông Trần Văn X , bà Huỳnh Thị E sử dụng phần diện tích ất mua bằng giấy tay theo nội dung thỏa thuận ghi ngày 23/11/2021.
Ý kiến phát biểu của ại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội ông xét xử ã tuân thủ theo úng quy ịnh của pháp luật. Các ương sự chấp hành theo úng quy ịnh của pháp luật.
- Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo: Xét kháng cáo của anh T trong thời hạn luật ịnh nên ược xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung kháng cáo của anh T:
+ Về con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Y chỉ yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung ối với cháu H2 mỗi tháng 1.000.000 ồng ến khi cháu ủ 18 tuổi, ề nghị Hội ồng xét xử ghi nhận. Anh T yêu cầu nuôi 01 con chung cháu H1, cháu H1 không ồng ý là không có cơ sở. Đề nghị Hội ồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của anh T.
+ Về tài sản chung: Tòa án sơ thẩm chia cho chị Y tài sản chung bằng hiện vật căn nhà, ất là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm cho chị Y ược kê khai ứng tên quyền sử dụng ất diện tích 96,8m2 là không úng với quy ịnh tại Quyết ịnh số 04/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy ịnh về diện tích tối thiểu tách thửa quyền sử dụng ất. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Y, anh T thống nhất bản ịnh giá tài sản ngày 02/8/2023 do Tòa án sơ thẩm tiến hành ịnh giá và thỏa thuận trường hợp Tòa án giao căn nhà, ất cho ai sử dụng th người ó tự chịu trách nhiệm thỏa thuận về quyền sử dụng ất với hộ gia nh ông X, bà E, nên ề nghị Hội ồng xét xử tuyên chị Y có quyền tự thỏa thuận với hộ gia nh ông X, bà E về việc sử dụng phần diện tích ất ã nhận chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 23/11/2021 và chia cho anh T ½ giá trị căn nhà, ất theo biên bản ịnh giá tài sản ngày 02/8/2023.
Đề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm chấp nhận 01 phần kháng cáo của anh T, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng nhận ịnh như trên.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ược thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của bị ơn Nguyễn Văn T, lời tr nh bày của các ương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác ịnh quan hệ tranh chấp “ Ly hôn , chia tài sản khi ly hôn” là có căn cứ, úng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm th anh T kháng cáo bản án trong thời hạn luật ịnh, nên ược xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T và chị Y cùng tr nh bày, Anh T và chị Y hiện ang tranh chấp cùng yêu cầu ược nhận tài sản chung bằng hiện vật là căn nhà của vợ chông , nên ề nghị hội ồng xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án . Xét thấy, bản chất việc tranh chấp của chị Y và anh T tại phiên tòa phúc thẩm là tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, xin nhận tài sản chung vợ chồng bằng hiện vật là căn nhà. Cho nên việc vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không ảnh hưởng g ến việc giải quyết vụ án phúc thẩm. hội ồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo ề nghị của nguyên ơn và bị ơn tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Chị Y và anh T xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2008, có ăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C. Quá tr nh chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do tính t nh không hợp nhau, anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị Y khởi kiện xin ly hôn anh T; Chị Y yêu cầu nuôi 02 con chung yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con (1.000.000 ồng/01 con chung); Tài sản chung: là 01 căn nhà gắn liền với phần ất khoản 96,8m2 (mua bằng giấy tay). Chị Y xin nhận nhà và ất và chia ½ giá trị bằng tiền cho anh T. Sau khi xét xử sơ thẩm th anh T kháng cáo yêu cầu nuôi 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung th anh T yêu cầu nhận nhà, ất bằng hiện vật và thối chia cho chị Y ½ giá trị bằng tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm th chị Y và anh T cùng xác ịnh tài sản chung của vợ chồng gồm căn nhà và phần ất (mua bằng giấy tay năm 2021) có trị giá bằng tiền là 177.392.800 ồng. Nếu tòa phúc thẩm chia cho ai ược hưởng th phải thối lại ½ giá trị bằng tiền là 88.696.400 ồng. Người ược chia căn nhà th có trách nhiệm tự thỏa thuận với gia nh ông Trần Văn X, bà Trần Thị E1 ể thỏa thuận (hoặc tranh chấp) việc sử dụng ất ối với phần ất sang nhượng bằng giấy tay ghi ngày 23/11/2021.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị ơn Nguyễn Văn T, Hội ồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trước hết, ối với quan hệ hôn nhân th quá tr nh giải quyết vụ án sơ thẩm th chị Y và anh T thuận t nh ly hôn ược Tòa án sơ thẩm ghi nhận là phù hợp với pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm th các bên không kháng cáo, Viện kiểm Sát không kháng nghị nên không ặt ra xem xét.
Về con chung, quá tr nh sinh sống chị Y và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012. Tòa án sơ thẩm ã xét xử giao 02 con chung cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng và buộc anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 ồng/01 con chung là có căn cứ úng pháp luật. Bởi lẽ các con chung ang chung sống ổn ịnh vơi chị Y và các cháu cũng có nguyện vọng sống với chị Y. Anh T kháng cáo yêu cầu nuôi 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Chị Y th không ồng ý theo yêu cầu kháng cáo của anh T và tr nh bày, hiện 02 con chung có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, ề nghị Tòa xem xét nguyện vọng các con chung muốn sống với ai th người ó nuôi dưỡng . Trường hợp cả hai con chung muốn sống với chị Y th chị Y chỉ yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 ồng ối với cháu Nguyễn Quốc H2 mà thôi. Anh T cũng giao nộp cho Tòa án phúc thẩm một bản tự khai ghi tên Nguyễn Thị Ngọc H1 tr nh bày có nguyện vọng sống với cha (anh T). Tòa án phúc thẩm ã hỏi tại phiên tòa phúc thẩm ể làm rõ nguyện vọng của các con chung th cháu Ngọc H1 và cháu Quốc H2 ều có nguyện vọng sống với mẹ (chị Y). Riêng tờ tường tr nh về lời tr nh bày của cháu Ngọc H1 do anh T giao nộp cho tòa án phúc thẩm th cháu Ngọc H1 cho rằng bị cha ruột ép buộc ký tên, nên cháu Ngọc H1 không ồng ý chung sống với anh T. Xét thấy, anh T kháng cáo yêu cầu ược nuôi con chung tên Ngọc H1 là không có cơ sở, không ược chấp nhận. Riêng việc chị Y thay ổi yêu cầu về việc chị Y chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con ối với cháu Quốc H2, ây là quyền tự ịnh oạt của chị Y và có lợi cho anh T nên ược Hội ồng xét xử chấp nhận việc thay ổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Y. Hội ồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh T về vấn ề cấp dưỡng nuôi con. Hội ồng xét xử phúc thẩm giao 02 con chung cho chị Y nuôi dưỡng và buộc anh T cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012, mổi tháng với số tiền 1.000.000 ồng.
Về tài sản chung: Tại phiên tòa phúc thẩm chị Y và anh T cùng thỏa thuận giá trị tài sản chung là căn nhà gắn liền với phần ất (mua bằng giấy tay) của gia nh ông Trần Văn X, bà Trần Thị E1 trị giá bằng tiền là 177.392.800 ồng. Tòa sơ thẩm ã xét xử giao cho chị Y toàn bộ nhà và ất, buộc chị Y hoàn trả ½ giá trị bằng tiền cho anh T. Anh T kháng cáo xin nhận bằng hiện vật và hoàn trả trị giá bằng tiền cho chị Y. Xét thấy, cả chị Y và anh T ều có nguyện vọng nhận tài sản chung bằng hiện vật. Tuy nhiên, chị Y là giới nữ, hiện ang nuôi 02 con chung, nên Tòa án sơ thẩm ã giao toàn bộ nhà ất cho chị Y là có căn cứ úng pháp luật. Anh T kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ g mới ể chứng minh nên kháng cáo của anh T là không có cơ sở.
Xét nội dung quyết ịnh của bản án sơ thẩm giao cho chị Y sở hữu toàn bộ căn nhà có kết cấu: Mái tôn, cột kèo thép, vách tôn, nền xi măng + nền gạch ceramic 500 x 500 + nền ất, diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 02 cây mai vàng trên ất là úng pháp luật.
Riêng việc Tòa án sơ thẩm giao cho chị Y phần ất có diện tích 96,8 m2 (Phần ký hiệu số “1” kèm theo bản ồ ịa chính khu ất ngày 08/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng ăng ký ất ai huyện C) và chị Y ược quyền kê khai ứng tên quyền sử dụng ất là không úng . Bởi lẽ, căn cứ theo quy ịnh tại Quyết ịnh số: 04/2024/QĐ-UBND ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy ịnh iều kiện tách thửa ất, hợp thửa ất và diện tích tối thiểu ược tách thửa ất ối với từng loại ất trên ịa bàn tỉnh Tiền Giang th diện tích 96,8 m2 ất trồng cây lâu năm không ủ iều kiện tách thửa. Hơn nữa, căn cứ vào giấy tay chuyển nhượng ất do ông Trần Văn X, bà Trần Thị E1 chuyển nhượng ất cho vợ chồng anh T th h nh thể, diện tích ất là khác nhau. Tại biên bản xem xét thẩm ịnh tại chỗ và biên bản o ạc ất chuyển nhượng ều không thể hiện sự chứng kiến và chỉ ranh ất của Ông X và bà E1. Đáng lẽ ra, tòa án phúc thẩm cần phải hủy một phần bản án về chia tài sản chung là quyền sử dụng ất. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, anh T và chị Y cùng thống nhất, nếu Tòa án phúc thẩm giao căn nhà (tài sản chung vợ chồng) cho ai th người ó có trách nhiệm hoàn trả giá trị nhà ất cho người còn lại và tự thỏa thuận việc sử dụng ất với gia nh ông X, bà E1. Cho nên Tòa án phúc thẩm không cần thiết hủy bản án sơ thẩm và xét xử theo hướng giao toàn bộ căn nhà diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 02 cây mai vàng trên ất cho Chị Y sở hữu, sử dụng và ịnh oạt, chị Y có trách nhiệm hoàn trả giá trị nhà ất cho anh T với số tiền 177.392.800 ồng : 2 = 88.696.400 ồng. Chị Y ược toàn quyền thỏa thuận với gia nh ông X, bà E1 về việc sử dụng phần ất chuyển nhượng theo giấy tay ghi ngày 23/11/2021.
Từ những căn cứ, phân tích như trên, Hội ồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng:
- Công nhận thuận t nh ly hôn giữa chị Y và anh T
- Giao 02 con chung cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh T cấp dưỡng nuôi con ối với 01 con chung tên Nguyễn Quốc H2, mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 ồng;
- Tài sản chung: Giao cho chị Y toàn quyền sở hữu sử dụng căn nhà có diện tích 62,4 m2 , 02 cây mai vàng thuộc một phần của thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang , hiện phần ất do ông Trần Văn X ứng tên quyền sử dụng ất.
+ Chị Y có nghĩa vụ thối chia cho anh T trị giá tài sản chung 88.696.400 ồng
+ Chị Y ược toàn quyền thỏa thuận với gia nh ông X, bà E1 về việc sử dụng phần ất chuyển nhượng theo giấy tay ghi ngày 23/11/2021.
Xét ề nghị của ại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận ịnh của Hội ồng xét xử, nên chấp nhận ý kiến ề nghị của ại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 33, Điều 38, Điều 39, Điều 51, Điều 55, Điều 59, Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia nh năm 2014; Điều 357 của Bộ luật dân sự ;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn T về việc cấp dưỡng nuôi con. Sửa một phần bản án hôn nhân gia nh sơ thẩm số 69/2024/HNGĐ- ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
2.Đ nh chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y về việc yêu cầu chia tài sản chung là phần ất có diện tích khoảng 1.000 m2 tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 08 cây mai vàng ang trồng trên phần ất này; 01 chiếc xe máy hiệu TAURUSSR; 01 dàn máy Karaoke, 01 chiếc xe ba gác và 01 chiếc xe máy Exciter.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y.
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Văn T thuận t nh ly hôn với nhau.
3.2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 13/7/2009 và Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012 cho chị Trần Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh T ược quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai ược quyền ngăn cản.
- Về cấp dưỡng: Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 26/11/2012 mỗi tháng 1.000.000 ồng. Thời hạn cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho ến khi cháu H2 ủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị Y có ơn yêu cầu thi hành án nếu anh T chậm thi hành án ối với số tiền trên th còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
2.3. Về tài sản chung:
- Xác ịnh tài sản chung của chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Văn T là phần ất trồng cây lâu năm theo hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất ghi ngày 23/11/2021 (giấy tay) và 01 căn nhà có diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1034, tờ bản ồ số 01, diện tích 899 m2 (Nay là thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17) tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang và 04 cây mai vàng trên ất.
+ Chia cho chị Y trực tiếp quản lý, sử dụng và ịnh oạt 01 căn nhà có kết cấu: Mái tôn, cột kèo thép, vách tôn, nền xi măng + nền gạch ceramic 500 x 500 + nền ất, diện tích: 62,4 m2 gắn liền với ất thuộc một phần của thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang (theo giấy tay chuyển nhượng ngày 23/11/2021) và 02 cây mai vàng trên ất.
- Chia cho anh T 02 cây mai vàng trên phần ất theo giấy tay chuyển nhượng ngày 23/11/2021, thuộc thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17 tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Buộc chị Y có nghĩa vụ hoàn lại cho anh T ½ giá trị căn nhà và ất là 88.696.400 ồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ hoàn trả tiền cho anh T th chị Y ược toàn quyền thỏa thuận việc sử dụng ất với hộ gia nh ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị E và anh Trần Thanh P ối với phần ất chuyển nhượng theo giấy tay chuyển nhượng ngày 23/11/2021 là một phần của thửa ất số 1034, tờ bản ồ số 01, diện tích 899 m2 (Nay là thửa ất số 1, tờ bản ồ số 17) tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Kể từ ngày anh T có ơn yêu cầu thi hành án nếu chị Y chậm thi hành án ối với số tiền th còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả lại cho chị Trần Thị Y ½ số tiền o ạc, xem xét thẩm ịnh tại chỗ và ịnh giá tài sản tranh chấp là 2.227.000 ồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
5. Về án phí:
- Chị Trần Thị Y phải chịu 300.000 ồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 4.434.800 ồng án phí chia tài sản chung, tổng cộng là 4.734.800 ồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ã nộp là 9.925.000 ồng theo biên lai số 0017345 ngày 14/3/2023 và biên lai số 0017346 ngày 14/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên hoàn lại cho chị Y số tiền 5.190.200 ồng.
- Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm và phải chịu 300.000 ồng án phí dân sự sơ thẩm về phần cấp dưỡng nuôi con và 4.434.800 ồng án phí chia tài sản chung. Tổng cộng là 4.734.800 ồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 ồng tạm ứng án phí do anh T nộp theo biên lai thu tiền số 0002641 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai lậy, nên phải nộp tiếp số tiền 4.434.800 ồng án phí sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Trong trường hợp bản án ược thi hành theo iều 2 Luật thi hành án dân sự th người ược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo iều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án ược thực hiện theo iều 30 Luật thi hành án dân sự. Tuyên án công khai lúc 14 giờ ngày 05 tháng 9 năm 2024.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy, Tiền Giang - Các ương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đạt |