vanban.org

Bản án 57/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ph Đ.

Buộc ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng thanh toán cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tổng số tiền bằng 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lãi quá hạn 123.796.985 đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Kể từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng phương đông"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ph Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/DS-ST
Ngày 09 tháng 4 năm 2024
“V/v Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Trọng Tâm

Ông Trương Công Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 794/2023/TLST - DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST - DS ngày 21/02/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Ph Đ.

Địa chỉ: Số 41- 45, Lê D, phường Bến Ng, quận , thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng

quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Quang Tr – Chức vụ: Nhân viên thu hồi

nợ, - chi nhánh Cà Mau, theo văn bản ủy quyền không số ngày 06/12/2023 (có mặt).

*Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Th; Sinh năm: 1990.

Bà Nguyễn Thị Như Ng; Sinh năm: 1990.

Cùng địa chỉ cư trú: Số đường Nguyễn Thiện N, khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:,

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phương Đông và tại phiên tòa ông Ngô Quang Tr đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

* Ngày 12/4/2017, ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng cùng Ngân hàng TMCP Phương Đông có ký kết hợp đồng vay số 0360/2017/HĐTD-CN và khế ước nhận nợ số 0360/2017/KƯNN-OCB-CN ngày 13/4/2017, Số tiền vay là 220.000.000 đồng.

Thời hạn vay 84 tháng, mục đích vay mua xe, phương thức trả góp; Lãi suất chi tiết được ghi trong hợp đồng 10,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Sau khi ký hợp đồng ông Th và bà Ng đã được giải ngân số tiền 220.000.000 đồng.

Quá trình vay ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng đã thanh toán được số tiền 69.758.533 đồng. Trong đó vốn 39.150.000 đồng, lãi bằng 30.608.533 đồng.

Tổng dư nợ tính đến ngày 09/4/2024 bằng 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lã quá hạn 123.796.985 đồng).

Mặc dù, phía Ngân hàng có yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng thanh toán nợ nhưng do ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng không có thiện chí trả nợ nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Nay ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng thanh toán như sau:

Tính đến ngày 09/4/2024 ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng còn nợ là 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lã quá hạn 123.796.985 đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

Xét các hợp đồng giữa 02 bên hoàn toàn tự nguyện thực hiện đúng quy định về nội dung và hình thức của các hợp đồng, nên các hợp đồng có giá trị và hợp pháp.

Quá trình vay ông ông Th và bà Ng không thanh toán nợ vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên buộc ông Th và bà Ngọc có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền mà Ngân hàng đã yêu cầu là phù hợp.

* Đối với ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập đến Toà để tham gia tố tụng nhưng ông không có mặt và cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng đã được Tòa án thông báo thụ lý và hòa giải kiểm tra chứng cứ và giai đoạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật. Nên Tòa án căn cứ theo quy định Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng: Chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện gồm hợp đồng tín dụng 0360/2017/HĐTD-CN ngày 12/4/2017 và khế ước nhận nợ số 0360/2017/KƯNN-OCB-CN ngày 13/4/2017, ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng cùng Ngân hàng TMCP Phương Đ, theo đó bị đơn ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng vay số tiền 220.000.000 đồng kèm theo kế ước nhận nợ - khách hàng cá nhân, ngày 13/4/2017 ông Nguyễn Hoàng Thanh và bà Nguyễn Thị Như Ng được Ngân hàng giải ngân số tiền vay 220.000.000 đồng.

Quá trình vay ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng có thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 69.758.533 đồng. Trong đó vốn 39.150.000 đồng, lãi bằng 30.608.533 đồng, thì ngưng cho đến nay, không thanh toán.

Tính đến ngày 09/4/2024 ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng còn nợ, tổng dư nợ là 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lã quá hạn 123.796.985 đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

Quá trình vay ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng không thanh toán nợ vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên buộc ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền mà Ngân hàng đã yêu cầu là phù hợp.

Do đó chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông. Tính đến ngày 09/4/2024 ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng còn nợ, tổng dư nợ là 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lã quá hạn 123.796.985 đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí đương sự phải nộp theo quy định, bị đơn phải chịu án phí số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các Điều 143, 227, 228 của bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91 của Luật tổ chức tín dụng.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ph Đ.

Buộc ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng thanh toán cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tổng số tiền bằng 373.997.583 đồng (trong đó tiền vốn 180.850.000 đồng, lãi trong hạn 69.350.598 đồng, lãi quá hạn 123.796.985 đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 09/4/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hành vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Hoàng Th và bà Nguyễn Thị Như Ng phải chịu 18.699.879 đồng (chưa nộp). Ngân hàng TMCP Phương Đông không phải nộp án phí vào ngày 29/12/2023 Ngân hàng tạm ứng án phí số tiền 8.086.000 đồng, tại lai thu số 0007871 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.

Ngân hàng TMCP Phương Đông có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ