- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "NHIỀU-MAI"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2024/DS-ST Ngày: 08-7-2024 V/v tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Kim Huệ.
2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khánh Tâm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01/7/2024 và 08/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 608/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1941; Địa chỉ: Số 109, Thành Mỹ, Phường 8, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 20, Gò Cẩm Đệm, Phường 10, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1946; Địa chỉ: Số 640, ấp Vĩnh Bình A, xã Vĩnh Thạnh, huyện L V, tỉnh ĐT
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 187A, khóm Bình Thạnh 2, thị trấn Lấp Vò, huyện L V, tỉnh Đ T. (có mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Lam Minh Nhật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khóm Bình Thạnh 1, thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Nguyễn Tú Loan, sinh năm 1983. Địa chỉ: số 640, ấp Vĩnh Bình A, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).
3.3. Dương Thị Tho, sinh năm 1959 (vắng mặt).
3.4. Nguyễn Tú Anh, sinh năm 1986 (vắng mặt).
3.5. Nguyễn Quốc Huy, sinh năm 1989. Địa chỉ: số 557, ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt).
3.6. Ông Nguyễn Minh Thuấn, sinh năm 1944 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.7. Bà Phạm Kim Bia, sinh năm 1947 (vợ ông Thuấn) (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: số 558, ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị Hà là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Trước năm 1944, cha của bà Nhiều là cụ Nguyễn Văn Lý, mẹ là cụ Lại Thị Dung có phần đất tọa lạc tại ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh. Đến năm 1961, cụ Lý có sang nhượng một phần cho cụ Nguyễn Văn Hạt (chồng cụ Huỳnh Thị Cửu, cha bà Nguyễn Thị Mai) diện tích đất 490m2 và một phần đất 2.280m2, tổng cộng là 3.370m2 (không bao gồm phần đất đang tranh chấp vì phần đất này chừa lại làm lối đi ra lộ). Thời điểm sang nhượng do đất bị ngập nước nên phần ranh đất giữa đất cụ Lý và bà Lê Thị Ngọt bị sai, sau đó bà Ngọt có làm tờ xác nhận lại ranh, bắt đầu từ mí con mương thủy lợi do cụ Lý đào đo vào 17m bề ngang chéo buồm và trả lại cho cụ Lý phần đất trên. Đến năm 1966, cụ Lý đã để lại toàn bộ phần đất còn lại cho bà Nguyễn Thị Nhiều, do hoàn cảnh khó khăn nên gia đình bà Nhiều đi Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và giao phần đất của bà Nhiều cho em ruột là Nguyễn Văn Thuấn trông coi. Năm 1999, ông Thuấn không được sự ủy quyền của bà Nhiều đã tự ý làm đơn khiếu nại tranh chấp phần diện tích chéo cánh buồm (hiện nay bà Nhiều đang tranh chấp với bà Mai) với cụ Nguyễn Thị Cửu (mẹ bà Mai). UBND huyện Lấp Vò đã giải quyết bằng quyết định số: 701/QĐ-UBND.NĐ ngày 09/6/2008 và UBND tỉnh Đồng Tháp giải quyết bằng quyết định số 362/QĐ-UBND-NĐ ngày 26/8/2009 công nhận phần diện tích đất của bà Nhiều cho cụ Cửu. Sau khi biết vụ việc, ngày 30/11/2018 bà Nhiều khiếu nại nhưng UBND huyện có Công văn số: 170/TN&MT ngày 26/02/2019 cho rằng không có căn cứ để xem xét với lý do: UBND tỉnh đã có quyết định giải quyết khiếu nại và chuẩn y quyết định của UBND huyện, đồng thời bà Nhiều không có quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến nội dung quyết định.
Tờ bán đứt đất thổ và ruộng xác nhận ngày 22/11/1966 không bán phần đất chéo buồm và phần đất thứ 3 như sơ đồ đo đạc.
Bà Nhiều yêu cầu bà Mai trả lại một phần diện tích đất không bán thuộc thửa đất 111, 112, tờ bản đồ số 58, hiện do bà Mai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Gồm phần thứ 3 có diện tích 866,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M8, M9, M13 về M1; Phần thứ 5 có diện tích 283m2 trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, M7 về M3.
Yêu cầu hộ bà Dương Thị Tho di dời nhà cửa, vật kiến trúc có trên phần đất tranh chấp để giao đất cho bà Nhiều, bà Nhiều không trả giá trị, không hỗ trợ di dời.
- Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Trung là người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Năm 1961, cụ Nguyễn Văn Hạt (chồng cụ Huỳnh Thị Cửu, cha bà Nguyễn Thị Mai) có nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Văn Lý (cha của bà Nhiều) diện tích 3.370m2, đất tọa lạc xã Vĩnh Thạnh. Đến năm 1966, ông Lê Văn Thuần cùng con là Lê Văn Chính có làm “tờ nhìn nhận ranh đất” ngày 10/6/1966dl có chủ đất cũ bán là cụ Nguyễn Văn Lý và cụ Lại Thị Dung cùng xác nhận phần đất tranh chấp cánh buồm này là của cụ Hạt. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình cụ Hạt sử dụng liên tục đến nay. Đến năm 1999, ông Nguyễn Văn Thuấn (em bà Nhiều) và vợ là Phạm Thị Bia làm đơn khiếu nại tranh chấp diện tích đất chéo cánh buồm. Sự việc được UBND xã Vĩnh Thạnh hòa giải, ông Thuấn đã thừa nhận toàn bộ diện tích đất chéo cánh buồm là của cụ Huỳnh Thị Cửu và ông Thuần yêu cầu cho gia đình của ông Thuấn được đi nhờ lối đi ngang 1,5m chạy dọc theo mép mương. Đến ngày 20/9/1999, UBND xã Vĩnh Thạnh ban hành quyết định số 68 công nhận lối đi này cho ông Thuấn nhưng quyền sử dụng đất là của hộ cụ Cửu.
Năm 2008, ông Thuấn và bà Bia tiếp tục khiếu nại đòi lại đất, sự việc được UBND huyện Lấp Vò giải quyết bằng quyết định số 701 ngày 09/6/2008, UBND tỉnh giải quyết bằng quyết định số 362 ngày 26/8/2009 công nhận diện tích đất tranh chấp là của cụ Cửu (mẹ của bà Mai). Sau khi cụ Cửu chết bà Mai được thừa kế toàn bộ phần đất này và được cấp quyền sử dụng đất.
Do đó bà Mai không đồng ý theo yêu cầu của bà Nhiều. Đối với căn nhà của bà Tho có trên đất, bà Mai không yêu cầu giải quyết mà để tự thỏa thuận.
- Trong Biên bản lấy lời khai của Tòa án, ông Thuấn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Sau khi giải quyết lần trước xong ông Thuấn không gửi đơn nơi nào nữa. Đối với lối đi mà gia đình ông Thuấn đang đi nhờ trên đất bà Mai, trước đây Ủy ban xã Vĩnh Thạnh chỉ ra quyết định giải quyết cho ông Thuấn đi nhờ lối đi chưa không giao luôn nên bà Mai vẫn còn đứng tên phần lối đi này. Nay bà Nhiều và bà Mai tranh chấp, ông Thuấn không ý kiến gì mà giao hết cho bà Nhiều quyết định và đứng tên. Nếu cần thì ông Thuấn sẽ khởi kiện bà Mai thành vụ kiện khác. Đối với quyết định giải quyết hành chính trước đây là giao đất cho bà Mai thì ông Thuấn không có khiếu nại gì (quyết định hành chính này là kết quả giải quyết từ việc khiếu nại của ông Thuấn) cụ thể: UBND huyện Lấp Vò đã giải quyết bằng quyết định số: 701/QĐ-UBND.NĐ ngày 09/6/2008 và UBND tỉnh Đồng Tháp giải quyết bằng quyết định số 362/QĐ-UBND-NĐ ngày 26/8/2009 công nhận phần diện tích đất của bà Nhiều cho cụ Cửu. Vì lúc đó ông Thuấn thấy rằng đất của cha mẹ để lại cho bà Nhiều nên ông Thuấn không khiếu nại nữa mà để bà Nhiều giải quyết, do đó ông Thuấn cam kết là không có khiếu nại mà để Tòa án giải quyết. Cha mẹ ông Thuấn có 04 người con: Nguyễn Minh Phú đã chết lúc giải quyết, có vợ và 03 con gái, 01 con trai; Nguyễn Minh Quế đã chết, có vợ và 02 con gái, vợ ông Quế cũng đã chết; Nguyễn Thị Nhiều và Nguyễn Minh Thuấn. ông Thuấn xác định phần đất này là cha mẹ cho bà Nhiều, chứ không chia cho các anh em khác; việc cha mẹ cho bà Nhiều có làm Tờ bán đứt đất thổ và ruộng, cụ thể ông Lý và bà Dung bán cho bà Nhiều nào ngày 22/11/1966 có thị thực của Ủy ban hành chính xã Vĩnh Thạnh.
- Đối với bà Tho mặc dù nhận được văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đều vắng mặt và không ý kiến gì.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
+ Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
+ Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Nhiều khởi kiện cho rằng phần đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 11, 112, tờ bản đồ số 58, đất toạ lạc tại ấp Hòa Thuận, Vĩnh Thạnh, Lấp Vò, Đồng Tháp là thuộc quyền sử dụng của bà Nhiều nên yêu cầu bà Nguyễn Thị Mai phải trả lại cho bà Nhiều.
Thửa đất số 112, tờ bản đồ số 58 cấp cho bà Mai đúng vị trí sơ đồ đất giải quyết tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn Thuấn (em của bà Nhiều) và vợ là Phạm Kim Bia với bà Huỳnh Thị Cửu (mẹ của bà Mai).
Đối với thửa đất này, năm 1999 ông Thuấn và bà Bia đã có tranh chấp với bà Cửu. Ngày 20/9/1999, UBND xã Vĩnh Thạnh ban hành quyết định số 68/QĐ.UB về việc công nhận hòa giải thành với nội dung: Bà Cửu cho hộ ông Thuấn sử dụng lối đi ngang 1,5m, dài từ lộ kênh ngang đến nhà ông Thuấn, nhưng quyền sử dụng đất trên là của hộ bà Cửu và ông Thuấn đã ký cam kết.
Đến năm 2008, ông Thuấn, bà Bia tiếp tục khiếu nại đòi lại diện tích chéo buồm này, tại thời điểm đó đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND theo quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 1993. Ngày 09/6/2008, Chủ tịch UBND huyện Lấp Vò ban hành Quyết định số 701/QĐ-UBND.NĐ giải quyết khiếu nại, nội dung: Bác đơn khiếu nại của ông Thuấn và bà Bia đòi lại phần diện tích: 598m² chéo cánh buồm thuộc tờ bản đồ số 6a, một phần thửa đất 145b của hộ bà Cửu đang quản lý, sử dụng. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích đất này cho hộ bà Cửu quản lý, sử dụng. Hộ bà có trách nhiệm liên hệ UBND xã Vĩnh Thạnh lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Không đồng ý với quyết định của UBND huyện, ông Thuấn và bà Bia khiếu nại lên UBND tỉnh Đồng Tháp. Ngày 26/8/2009, Chủ tịch UBND tỉnh đã giải quyết bằng quyết định số 362/QĐ-UBND-NĐ có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày ký, chuẩn y Quyết định số 701/QĐ-UBND.NĐ, ngày 09/6/2008 của Chủ tịch UBND huyện Lấp Vò.
Ngày 04/7/2014, Phòng Tài nguyên và môi trường phối hợp các ngành có liên quan, UBND xã Vĩnh Thạnh mời các đương sự bàn giao đất ngoài thực địa theo quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND huyện và UBND tỉnh.
Sau khi bà Cửu chết thì bà Mai là người được hưởng thừa kế toàn bộ diện tích đất trên và được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 883988, số vào sổ CH 10484, ngày 06/5/2019 đối với thửa đất số 112, tờ bản đồ số 58 cho bà Mai trên cơ sở hồ sơ thừa kế và Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh.
Quyết định số 362/QĐ-UBND-NĐ, ngày 26/8/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp có hiệu lực pháp luật đã quyết định phần diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Cửu là mẹ của bà Mai.
Thửa đất 111 cũng được UBND huyện Lấp Vò xác định cấp cho bà Mai là đúng theo quy định.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đất tranh chấp tọa lạc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
. Xác định vị trí, giấy tờ về đất tranh chấp:
Do hai thửa đất 111 và 112 không phân biệt được vị trí ranh giới, do đó, đo chung hai thửa đất.
Đất tranh chấp thuộc một phần của thửa đất số 111 và 112, tờ bản đồ số 58, hiện do bà Nguyễn Thị Mai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, phần tranh chấp gồm 02 phần: Theo sơ đồ đo đạc gồm:
- Phần thứ 3 có diện tích 866,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M8, M9, M13 về M1.
- Phần thứ 5 có diện tích 283m2 trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, M7 về M3.
. Về giá đất:
Trong Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện Lấp Vò đã định ngày 04/4/2024 đã định giá về đất, cụ thể: Thửa đất 111, loại đất ONT là 1.100.000 đồng/m2; Thửa đất số 112, loại đất cây lâu năm là 150.000 đồng/m2.
Cùng các loại tài sản khác có trên đất.
. Xét yêu cầu của các đương sự:
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các bên đương sự đều thống nhất đất có nguồn gốc của cụ Lại Thị Dung và cụ Nguyễn Văn Lý là cha mẹ ruột của bà Nguyễn Thị Nhiều. Vào năm 1961, cụ Dung và cụ Lý có làm giấy bán đất cho cụ Huỳnh Thị Cửu và cụ Nguyễn Văn Hạt là cha mẹ ruột của bà Mai.
Tuy nhiên, phía bà Nhiều cho rằng chỉ bán 02 thửa 68 không ghi diện tích mà chỉ ghi tọa độ (trong biên bản hòa giải ghi diện tích đất 490m2 và một phần đất 2.280m2) và thửa 66b, diện tích là 2.880m2. Phần còn lại có chừa lại không rõ diện tích. Chứng cứ bà Nhiều đưa ra là tờ bán đứt ruộng và thổ ngày 09/10/1961. Đến năm 1983, cụ Lý cùng gia đình di dời về Sa đéc sinh sống nên phía bà Mai đã sử dụng chiếm luôn phần đất còn chừa lại.
Như vậy, nguyên đơn thừa nhận phần đất tranh chấp đã không còn sử dụng từ năm 1983, phía bà Mai quản lý sử dụng, đến năm 2008 thì em ruột của nguyên đơn là ông Thuấn tranh chấp lối đi với bà Mai và được UBND huyện giải quyết bằng quyết định hành chính là giao đất cho bà Mai. Thời điểm này phía bà Nhiều tìm được giấy bán đất cho cha mẹ bị đơn, có thể hiện là bán có 02 phần, gồm thửa 68 không ghi diện tích và thửa 66B diện tích 2.880m2, phần còn lại không bán nên mới nộp đơn khởi kiện.
Như vậy, phía bị đơn đã sử dụng từ năm 1983 đến nay ổn định, lâu dài. Đồng thời toàn bộ phần đất bà Mai hiện đang sử dụng gồm 02 thửa 111 và 112, đo đạc thực tế có diện tích là 3.163,3m2, phù hợp với diện tích mà cha mẹ bà Nhiều đã chuyển nhượng cho cha mẹ bà Mai vào năm 1961.
Tại Công văn số 172/UBND-NC ngày 16/11/2020, UBND huyện Lấp Vò cung cấp thông tin như sau: Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Mai thửa đất số 112, tờ bản đồ số 58 diện tích 598m2 (CLN), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 883988, vào sổ CH 10484 cấp ngày 06/5/2019 là căn cứ vào hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất của cụ Huỳnh Thị Cửu. Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Mai đảm bảo theo quy định tại thời điểm cấp giấy, đúng đối tượng theo văn bản chia thừa kế. Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Mai có phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai Huyện lập ngày 10/12/2018 và Quyết định 362/QĐ-UBND-NĐ ngày 26/8/2009 của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc giải quyết tranh chấp giữa bà Phạm Thị Bia với cụ Huỳnh Thị Cửu và Quyết định công nhận đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp cho bà Nguyễn Thị Mai.
Tại Công văn số: 113/UBND-NC của Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò ngày 06/5/2024 ghi nhận: Căn cứ hồ sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lấp Vò cung cấp. Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò xác định trình tự, thủ tục Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số phát hành CQ 998546, số vào sổ CH 10487 cấp ngày 07/5/2019 cho hộ bà Nguyễn Thị Mai đối với thửa đất số 111, tờ bản đồ 58, đất tọa lạc ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp là đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu của bà Nhiều là không có căn cứ nên không được chấp nhận, đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Tòa án.
Do ông Thuấn không yêu cầu giải quyết lối đi, không yêu cầu gì trong vụ án này, nên Tòa án không xem xét.
. Về án phí:
Bà Nhiều không được chấp nhận yêu cầu nhưng có đơn xin miễn nên được miễn toàn bộ án phí.
. Về chi phí thẩm định, định giá:
Bà Nhiều phải tự chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 167, 170 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 12 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
Hộ bà Nguyễn Thị, Nguyễn Tú L được quyền tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 866,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M8, M9, M13 về M1 và diện tích 283m2 trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6, M7 về M3, thuộc một phần của hai thửa đất số 111 (số bìa CQ 998546, số vào sổ CH 10487 cấp ngày 07/5/2019) và thửa đất số 112 (số bìa CQ 883988, vào sổ CH 10484 cấp ngày 06/5/2019), cùng tờ bản đồ số 58, được Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp cho hộ bà Nguyễn Thị M đứng tên quyền sử dụng đất, tọa lạc ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/12/2023, sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp ngày 27/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lấp Vò kèm theo).
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Nh được miễn toàn bộ án phí.
3. Về chi phí đo đạc, định giá:
Bà Nguyễn Thị Nh phải tự chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá là 11.731.000 đồng. Số tiền này bà Nh đã nộp đủ, chi xong.
4. Án xử công khai. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lấp Vò; - CCTHADS huyện Lấp Vò; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Kiều Tiên |