vanban.org

Bản án 57/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:57/2023/HSST
Ngày:14/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quý Minh Ánh.

2. Ông Nguyễn Hồng Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ-Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2023, tại Trụ sở Uỷ ban nhân phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:44/2023/QĐXX-ST ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:

Đỗ Văn S, sinh năm 1969; tại Phổ Yên; Trú tại: Tổ dân phố H, phường NT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động Tự do; trình độ văn hóa lớp: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị L; có vợ là: Bùi Thị H; vợ chồng bị cáo có 02 con chung (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Nam Tiến, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng tại Quyết định số 85/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 (Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý). Được chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vào ngày 05/5/2021 tại Quyết định số 102 /QĐ-UBND ngày 05/5/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Nam Tiến, thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, giam từ ngày 04/10/2022 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo S: Bà Nguyễn Thị Dung-Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

*Người chứng kiến:

1. Ông Trần Phi H, sinh năm 1962;

Trú tại: TDP4, phường BH, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 40 phút ngày 04/10/2022, tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện tại hành lang bên phải đường Quốc lộ 3 cũ theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên có đối tượng là nam giới (sau xác định là Đỗ Văn S) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, S đã tự nguyện lấy từ trong lòng bàn tay trái ra 02 (hai) túi nilon, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng đục giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận số chất bột màu trắng đục trên là ma tuý (loại Heroine) của S, S mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất bột màu trắng đục thu giữ của Đỗ Văn S, được 0,147 gam, cho toàn bộ số chất rắn màu trắng đục vào phong bì ký hiệu Kgửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1604/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,147gam.

Quá trình điều tra Đỗ Văn S khai nhận: Khoảng hơn 11 giờ ngày 04/10/2022, S đi nhờ xe của người đi đường từ nhà đến khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nơi, S đi bộ vào trước cửa một ngôi nhà có cửa bằng sắt, phía trước có che rèm màu đen nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. Đứng trước cửa ngôi nhà, S cầm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ sát nền bê tông vào bên trong ngôi nhà thì có người ở bên trong nhà cầm tiền rồi vứt ra ngoài cho S 02 (hai) túi ni lông, bên trong có chứa ma túy Heroine. S không biết chủ nhân ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai. S nhặt 02 (hai) túi ma túy lên cầm trong tay trái rồi đi ra bắt xe để về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, niêm phong số ma tuý như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSPY ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Đỗ Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo đã thừa nhận ngày 04/10/2022 đã có hành vi tàng trữ 0,147 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.

Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đỗ Văn S từ 18 đến 24 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu K ghi hoàn trả 0,140 gam mẫu K còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho; về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo S.

Phần tranh luận: Bị cáo S không tranh luận gì. Nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo S tranh luận: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo, vợ chồng đã ly hôn, gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo với mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Các vấn đề khác nhất trí không tranh luận gì thêm.

Phần đối đáp: Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến ông Trần Phi Hùng vắng mặt. Bị cáo S, Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị xét xử. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo S tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như lời khai của người người chứng kiến, bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Đỗ Văn S là đối tượng nghiện ma tuý, Khoảng hơn 11 giờ ngày 04/10/2022, S đi nhờ xe của người đi đường từ nhà đến khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên mục đích để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nơi, S đi bộ vào trước cửa một ngôi nhà có cửa bằng sắt, phía trước có che rèm màu đen nằm bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội. Đứng trước cửa ngôi nhà, S cầm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ sát nền bê tông vào bên trong ngôi nhà thì có người ở bên trong nhà cầm tiền rồi vứt ra ngoài cho S 02 (hai) túi ni lông, bên trong có chứa ma túy Heroine cân trọng lượng được 0,147 gam. Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận là Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Như vậy hành vi, ý thức nêu trên của Đỗ Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a...

c)Heroin… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Xét tính chất vụ án, nguyên nhân, động cơ, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân, tiếp tay cho những đối tượng mua bán trái phép chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm. Do đó cần đưa bị cáo ra xét xử bằng pháp luật hình sự để cải tạo, giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, xong do không chịu khó tu dưỡng, rèn luyên, đua đòi, thiếu bản lĩnh nên đã mắc nghiện ma tuý rồi dẫn đến việc phạm tội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã tiếp tay cho những đối tượng bán trái phép chất ma tuý làm gia tăng tội phạm. Bị cáo là người có tiền sự bị xử lý vi phạm hành chính áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học để nghiêm khắc sửa chữa bản thân, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian vừa đủ để có thể cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội được.

Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đề nghị tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu K ghi hoàn trả 0,140 gam mẫu K còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho. Đây là số ma tuý còn lại sau khi giám định và vỏ bao gói mẫu, là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

. Về án phí: Quá xác minh tại địa phương bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo S.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Đỗ Văn S, theo S khai mua tại ngôi nhà có cửa bằng sắt bên trái hành lang đường Quốc lộ 3 cũ hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên. S không biết chủ nhân ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai,Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Đỗ Văn S 45 (bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu K ghi hoàn trả 0,140 gam mẫu K còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu kho.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 13/01/2023.

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo S.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ