- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đõ Văn P - Đ249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 09-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiền Giang;
2. Ông Nguyễn Quốc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn P, sinh năm 1999 tại An Giang; Nơi cư trú: Phòng trọ số 14 Nhà trọ Năm Thiết, khu phố Ông Đông, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/7/2022, sau đó chuyển sang tạm giam đến nay. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1975; Ông Hoàng Văn L sinh năm 1995; Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn P là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 22 giờ ngày 02/7/2022, P liên hệ qua mạng xã hội Zalo với đối tượng nam thanh niên có tên Zalo là “T” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.900.000 đồng để sử dụng thì “T” đồng ý và hẹn giao ma túy cho P ở khu vực ngã tư Miếu Ông Cù thuộc phường B, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Sau khi thỏa thuận xong, P thuê xe Grap (xe ôm công nghệ) chở P đến điểm hẹn. Khi đến nơi, P điện thoại cho “T”, khoảng 15 phút sau thì “T” đi đến chỗ P đang đứng chờ đưa cho P một gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá rồi P đưa cho T số tiền 1.900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy P mang ma túy đá về phòng trọ cất giấu và sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2022 khi P đang ở trong phòng trọ số 14 khu nhà trọ Năm Thiết thuộc khu phố Ông Đông, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì Công an phường H kiểm tra hành chính, phát hiện ở trên bàn trong phòng trọ của P có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và một gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Công an phường H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa P về trụ sở để làm việc. Sau đó, Công an phường H lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số: 325/KL-KTHS(MT) ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: chất màu trắng bên trong gói nylon thu giữ của Đỗ Văn P là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 10,6862 gam.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn P từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và những vật chứng dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm: 01 bì thư, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 10,5761 gam được kết luận là ma túy loại Methaphetamin hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Oppo A73, IMEI 1: 866155055737030.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo Đỗ Văn P nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người làm chứng ông Trần Quốc T, ông Hoàng Văn L, bà Nguyễn Thị M vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người làm chứng nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/7/2022, tại phòng trọ số 14 nhà trọ Năm Thiết thuộc khu phố Ông Đông, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương, Đỗ Văn P đã có hành vi tàng trữ 10,6862 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Đỗ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ý thức được tác hại của ma túy đối với xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả. Hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy đang diễn ra phức tạp, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện, phấn đấu trở thành công dân có ích. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có một hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là chất cấm lưu thông và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Oppo A73, IMEI 1: 866155055737030 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước..
Xét, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và về xử lý vật chứng phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2022.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,
- Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 bì thư, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 10,5761 gam được kết luận là ma túy loại Methaphetamin hoàn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Oppo A73, IMEI 1: 866155055737030.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đỗ Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã T; - Công an thị xã T; - Chi cục THADS thị xã T; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Sơn |