- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGÔ VĂN T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Ngô Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày: 20 – 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Ông Mai Văn Thông
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Ngô Văn T - sinh ngày: 25/5/1988, tại xã K, huyện I, tỉnh H; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã K, huyện I, tỉnh H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn D (đã chết); con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; vợ: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/01/2023 đến nay (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Duy C là:
+ Ông Phan Hữu T - Sinh năm 1954
Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
+ Ông Phan Hữu U – Sinh năm 1954
Địa chỉ: Khối S, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: CTCP thương mại S
Địa chỉ: Cụm H, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: Anh Hà Văn V – Sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn C, xã I, huyện T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Thiều Sinh N – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Xóm Q, xã K, huyện I, tỉnh H (vắng mặt)
+ Ông Vũ Tiến V – Sinh năm 1977
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã K, huyện I, tỉnh H, là lái xe hợp đồng của CTCP thương mại S có địa chỉ ở cụm 2 Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 15 tháng 6 năm 2022, Ngô Văn T điều khiển xe ô tô tải thùng biển kiểm soát 29H - 761.40 của công ty đi từ tỉnh H ra Hà Nội để giao hàng nông sản, trên cabin xe còn có ông Thiều Sinh N. Khi đến Km 374+50m Quốc lộ 1A thuộc địa phận tổ dân phố L, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nơi có điểm mở dải phân cách cứng rộng 29m, có hệ thống đèn đường chiếu sáng, có gờ giảm tốc và biển báo khu vực cho người đi bộ qua đường. Lúc này trời mưa, hạn chế tầm nhìn, do không chú ý quan sát, làm chủ tốc độ nên khi T phát hiện thấy phía trước có một người đàn ông đang đi bộ trên khu vực vạch kẻ đường dành cho người đi bộ từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo hướng đi, T đã không kịp dừng xe lại hoặc điều khiển xe tránh né nên đã đâm vào người đàn ông, hất văng người này sang làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp dải phân cách cứng, sau đó bị 02 chiếc xe ô tô tải thùng (không rõ biển kiểm soát) đi đè qua, chết tại chỗ.
Kết luận giám định số 2337/GĐPY-PC09 ngày 04/7/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Nguyên nhân chết của nam giới chưa rõ tung tích, khoảng 70 tuổi là: Đa chấn thương”.
Kết luận giám định số 2415/KL-KTHS ngày 14/7/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
“1. Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ô tô BKS 29H- 761.40 với nạn nhân nam giới chưa rõ tung tích, khoảng 70 tuổi trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 15/6/2022 tại tổ dân phố Lan Trà, phường Trúc Lâm, thị xã N. Dấu vết ghi nhận tại mặt trước bên phải ba-đờ-sốc trước đến bên phải ca-lăng (cách thành xe bên trái 130cm) (ảnh 5 đến 8) xe ô tô BKS 29H - 761.40 phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.
2. Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô BKS 29H - 761.40 có hướng từ Nghệ An đi Hà Nội.
3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS 29H – 761.40 với phương tiện khác.
4. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô BKS 29H – 761.40 tại thời điểm xảy ra tai nạn.”.
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 3606/KL-KTHS, ngày 21/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
“Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ô tô BKS 29H - 761.40 và phương tiện khác với nạn nhân.”.
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1977, cư trú tại tổ dân phố, phường T, thị xã N giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 USB nhãn hiệu Kingston 16GB chứa 02 đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông nêu trên.
Kết luận giám định số 4104/KL-KTHS ngày 23/11/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
“Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 USB gửi giám định. Mô tả một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định - Được thể hiện trong phụ lục. kèm theo Kết luận có 01 phụ lục gồm 12 ảnh trong 06 trang giấy khổ A4.”.
Về người đàn ông là nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông nêu trên, quá trình điều tra, ông Phan Hữu T và Phan Hữu U, đều sinh năm 1954, trú tại khối S, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An cho biết, nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông nêu trên là ông Phan Duy C, sinh năm 1943, trú tại khối S, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, là người thân của gia đình. Đại diện gia đình cho biết, ông C là người khuyết tật bị thiểu năng thần kinh, bố mẹ đẻ đã chết, bản thân ông C không có vợ con, gia đình hiện tại có ông T và ông U là cháu ruột ông C, hai người có quan hệ huyết thống với ông C.
Kết luận giám định số 2405/KL-KTHS ngày 12/7/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
“1. Phân tích gen (ADN) bằng bộ kít Yfiler cho thấy:… Mẫu tóc, máu của nạn nhân chưa rõ tung tích, mẫu tóc của Phan Hữu T và Phan Hữu U đều có cấu trúc gen giống nhau ở các locus trên. Mẫu tóc, máu của nạn nhân chưa rõ tung tích, mẫu tóc của Phan Hữu T và Phan Hữu U có quan hệ huyết thống theo dòng cha, xác suất 99,9997%. 2. Lưu cấu trúc gen (ADN) của Phan Hữu T, Phan Hữu U và nạn nhân chưa rõ tung tích trên tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.”.
Đối với 02 xe ô tô loại xe tải thùng, không rõ màu sơn, không rõ biển kiểm soát đã đè qua nạn nhân, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.
Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKSNS ngày 20/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt Ngô Văn T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung và không xem xét phần bồi thường thiệt hại; trả lại 01giấy phép lái xe hạng C cho bị cáo; buộc bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa, Ngô Văn T đã khai nhận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 15/6/2022, tại Km 374 + 50 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận tổ dân phố L, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Ngô Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-761.40 tham gia giao thông trên Quốc lộ 1A theo hướng Nam - Bắc khi đến điểm mở dải phân cách cứng, nơi có gờ giảm tốc và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, T đã không chú ý quan sát, làm chủ tốc độ và nhường đường cho người đi bộ sang đường nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào ông Phan Duy C, sinh năm 1943, trú tại khối S, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, hất văng ông C sang làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp dải phân cách cứng, sau đó bị 02 chiếc xe ô tô tải thùng (không rõ biển kiểm soát) đi đè qua, chết tại chỗ do đa chấn thương.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng, phù hợp với kết luận của đại diện VKS. Hành vi của Ngô Văn T đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ và các khoản 2, 6, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ, gây tai nạn làm chết một người. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N, tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về người, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:Tiền án, tiền sự:không. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về bồi thường dân sự: Bị cáo Ngô Văn T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 80.000.000 đồng, gia đình nạn nhân không yêu cầu gì thêm về dân sự. Do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Xét về phần vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô BKS 29H -761.40 cùng giấy tờ xe liên quan: Sau khi khám nghiệm phương tiện, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ xe cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Ngô Văn T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/01/2021 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án), vì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo là hoàn toàn chính xác.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Ngô Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Ngô Văn T 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/6/2023. Giao bị cáo Ngô Văn T cho chính quyền Uỷ ban nhân dân xã K, huyện I, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;
- Về vật chứng: Trả lại cho Ngô Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Ngô Văn T, do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/01/2021.
- Án phí: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn; - CQTHA HS Công an thị xã Nghi Sơn; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Bắc |