vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê D L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê D L 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (12/4/2023). Trong thời gian thử thách giao bị cáo Lê D L cho Ủy ban nhân dân Phường 5, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê D L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày: 12 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ

+ Bà Phạm Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST - HS ngày 28/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê D L, sinh năm: 1992, tại: LĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 71C HD, Phường 5, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: V Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê D K, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà: Trương Thị V, sinh năm: 1953; vợ: Đỗ Nguyễn Thảo Ng, sinh năm: 1999; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại 71C HD, Phường 5, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Người bị hại: Ông Phan Văn C, sinh năm: 1963 (đã chết). Đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1967, địa chỉ: Số 40 Ng S, Phường 7, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người làm chứng: Anh Mai Hữu T, sinh năm: 1992, địa chỉ: Số 3 hẻm 2 HD, Phường 5, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo và người làm chứng có mặt, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê D L, có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 theo quy định, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/3/2022, L điều khiển xe ô tô hiệu Honda Civic biển số 49A - 411.2 chở Mai Hữu T, sinh năm 1992, HKTT: số 37/3 HD, Phường 5, Thành phố ĐL (ngồi ghế phụ phía trước) lưu thông trên đường XVNT, Phường 7, Thành phố ĐL theo hướng Công an Phường 7 về cây xăng XVNT. Khi L điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường trước nhà số 236 XVNT, Phường 7, Thành phố ĐL, đây là đoạn đường cong về phía bên phải theo hướng di chuyển của L, mặt đường rộng 13,20 mét được trải nhựa, giữa đường có vạch sơn vàng đôi liền phân chia lòng đường thành hai chiều phương tiện lưu thông, ở giữa mỗi phần đường lưu thông có vạch sơn trắng đứt quãng thì L điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái của phương tiện lưu thông ngược chiều để ôm cua. Lúc này, L phát hiện xe mô tô Honda Vision biển số 49B1 - 332.92 do ông Phan Văn C điều khiển lưu thông ngược chiều nên L đạp thắng đồng thời đánh lái qua phải để tránh, nhưng do khoảng cách gần nên xe ô tô của L va chạm với xe mô tô của ông C gây tai nạn giao thông. Sau khi gây tai nạn, L dừng xe lại rồi cùng T gọi cấp cứu và nhờ các xe ô tô đang lưu thông đưa nạn nhân đi cấp cứu nhưng không được. Lúc này, do có nhiều người dân ra xem nên L sợ và nói T ở lại hỗ trợ nạn nhân đi cấp cứu, còn L điều khiển xe đến Công an thành phố ĐL đầu thú. Hậu quả, ông C tử vong (BL: 81- 94; 134- 139).

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm bên trái phần đường theo hướng Công an Phường 7 về hướng cây xăng XVNT.

- Vị trí mảnh vỡ phương tiện nằm bên trái phần đường theo hướng chuẩn. Tâm đo vào lề chuẩn là 4,3 mét, cách tâm bánh trước xe 49B1-332.9 là 3,8 mét.

- Vị trí xe mô tô 49B1-332.9 đổ ngã sang lề chuẩn, đầu hướng về Công an Phường 7. Tâm bánh trước đo vào lề chuẩn là 1,6 mét. Tâm bánh sau đo vào lề chuẩn là 1,4 mét. Tâm bánh trước đến tâm dung dịch màu đỏ thẩm là 1,2 mét. Tâm bánh sau xe đến tâm vị trí mảnh vỡ 4 là 4 mét.

- Vị trí dung dịch màu đỏ thẫm nằm bên trái phần đường theo hướng chuẩn. Tâm dung dịch đo vào lề chuẩn là 2,3 mét.

- Vị trí mảnh vỡ nằm trên phần đường bên trái theo hướng chuẩn là 4,2 mét. Tâm đo vào lề chuẩn là 4,2 mét.

- Vị trí mảnh vỡ phương tiện nằm phần đường bên trái theo hướng chuẩn. Tâm đo vào lề chuẩn là 1,5 mét (BL: 42, 43).

Tại Kết luận giám định số 377/KL-KTHS ngày 31/5/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định:

- Vết trượt bong tróc đề can tại mặt ngoài ốp trước bên trái của xe ô tô biển số 49A-411.2 phù hợp với vết bám dính mảng chất màu xám tại mặt phía bên trái giá đỡ bình ắc qui của xe mô tô biển số 49B1-332.9.

- Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49B1-332.9 và xe ô tô biển số 49A-411.2 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 49B1-332.9 lưu thông trên đường XVNT theo chiều từ Cây xăng XVNT về hướng Công An Phường 7, thành phố ĐL.

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe ô tô biển số 49A-411.2 lưu thông trên đường XVNT theo chiều từ Công an Phường 7 về hướng Cây xăng XVNT, thành phố ĐL.

- Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49B1-332.9 với xe ô tô biển số 49A-411.2 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường lưu thông của xe mô tô biển số 49B1-332.9 (BL: 57).

Tang vật thu giữ:

- 01 xe ô tô hiệu Honda Civic biển số 49A-411.2; 01 giấy phép lái xe số 68020100700 mang tên Lê D L; 01 căn cước công dân mang tên Lê D L; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tố số 4900753; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 5675715; 02 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số 0254867 và 0004866. Ngày 02/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐL đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số T sản và giấy tờ trên cho Lê D L (BL: 31-41).

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 49B1-332.9, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967; HKTT: số 40 Ng S, phường 7, thành phố ĐL là chủ sở hữu. Ngày 03/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐL đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho bà L (BL: 40-43).

Bị hại là ông Phan Văn C, sinh năm: 1963. Hộ khẩu thường trú: 40 Ng S, Phường 7, ĐL. Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 47/2022-TT ngày 31/03/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh LĐ kết luận Ng nhân chết: Đa chấn thương do tai nạn giao thông.

Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967; HKTT: số 40 Ng S, phường 7, thành phố ĐL (vợ của ông Phan Văn C);

2. Phan Anh D, sinh năm: 1989, HKTT: số 40, Ng S, phường 7, thành phố ĐL (con ruột của ông Phan Văn C);

3. Phan Anh T, sinh năm: 1993, HKTT: số 40, Ng S, phường 7, thành phố ĐL (con ruột của ông Phan Văn C);

4. Phan Thụy Nhật L, sinh năm: 2003, HKTT: số 40, Ng S, phường 7, thành phố ĐL (con ruột của ông Phan Văn C);

Anh D, anh T, chị L cùng ủy quyền cho bà L (theo văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 5 năm 2022) để giải quyết yêu cầu về dân sự. Quá trình điều tra, bị can đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 300.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Ngày 23/5/2022, bà Nguyễn Thị Kim L có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác (BL: 68 - 69; 115-131).

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSĐL ngày 16/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Lê D L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê D L khai nhận, vào tối ngày 28/3/2022, tại đoạn đường XVNT, Phường 7, Thành phố ĐL, L điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái của phương tiện lưu thông ngược chiều để dễ ôm cua thì L phát hiện có 01 xe mô tô Honda do ông Phan Văn C điều khiển lưu thông ngược chiều nên L đạp thắng đồng thời đánh lái qua phải để tránh, nhưng do khoảng cách gần nên xe ô tô của L va chạm với xe mô tô của ông C gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ông C chết như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ Ng quan điểm truy tố bị cáo Lê D L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê D L từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách tứ 30 đến 36 tháng.

Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Lê D L.

Về trách nhiệm dân sự Không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê D L: Lê D L có bằng lái B2. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/03/2022, Lê D L điều khiển xe ô tô biển số 49A-411.2 chở theo Mai Hữu T lưu thông trên đường XVNT, Phường 7, Thành phố ĐL theo hướng từ Công an Phường 7 về hướng cây xăng XVNT. Khi đến trước nhà số 236 XVNT, L điều khiển xe lấn sang phần đường dành cho xe lưu thông theo hướng ngược lại nên đã tông vào xe mô tô Honda Vision biển số 49B1 - 332.92 do ông Phan Văn C điều khiển theo hướng ngược lại, hậu quả ông C tử vong. Hành vi của Lê D L đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khai nhận chính L là người điều khiển xe ô tô biển số 49A-411.2 gây tai nạn hậu quả làm ông C tử vong.

Tại Kết luận giám định số 377/KL-KTHS ngày 31/5/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định:

- Vết trượt bong tróc đề can tại mặt ngoài ốp trước bên trái của xe ô tô biển số 49A-411.2 phù hợp với vết bám dính mảng chất màu xám tại mặt phía bên trái giá đỡ bình ắc qui của xe mô tô biển số 49B1-332.9.

- Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49B1-332.9 và xe ô tô biển số 49A-411.2 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 49B1-332.9 lưu thông trên đường XVNT theo chiều từ Cây xăng XVNT về hướng Công An Phường 7, thành phố ĐL.

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe ô tô biển số 49A-411.2 lưu thông trên đường XVNT theo chiều từ Công an Phường 7 về hướng Cây xăng XVNT, thành phố ĐL.

- Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49B1-332.9 với xe ô tô biển số 49A-411.2 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường lưu thông của xe mô tô biển số 49B1-332.9.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 47/2022-TT ngày 31/03/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh LĐ kết luận Ng nhân chết của ông Phan Văn C: Đa chấn thương do tai nạn giao thông.

Xét thấy, bị cáo Lê D L là người trưởng thành và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có bằng lái xe B2 và biết rõ việc điều khiển ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ khi tham gia giao thông phải thực hiện đúng quy định của Luật giao thông đường bộ. Tuy không xác định bị cáo chạy với tốc độ cao nhưng do chủ quan, cẩu thả, bất chấp quy định của pháp luật L đã điều khiển cho xe ô tô lấn sang vạch đường bên trái của phương tiện lưu thông ngược chiều để ôm cua là vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ. Nghiêm trọng hơn, bị cáo đã gây tai nạn giao thông với người điều khiển xe ngược chiều mà lỗi chính hoàn toàn do bị cáo thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về hoạt động giao thông vận tải đường bộ nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ, T sản của cá nhân và tổ chức khi tham gia giao thông, nên cần phải xử lý thật nghiêm, phù hợp với hành vi của bị cáo đã gây ra. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, của người làm chứng, phù hợp với T liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê D L phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 16/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; có bố ruột là người có công vối cách mạng, được tặng nhiều huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; đã tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ cư trú rõ ràng, ổn định nên cho bị cáo được cải tạo tại phương theo Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01(một) Giấy phép lái xe mang tên Lê D L. Hồ sơ đã thể hiện đầy đủ căn cứ xác định bị cáo đã được phép điều khiển xe hạng B2; xét thấy Giấy phép lái xe trên khong liên quan đến việc thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận số tiền bồi thường từ gia đình bị cáo là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tuy nhiên, tại phiên toà, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt không có lý do, nên tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục Tố tụng dân sự nếu có yêu cầu.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê D L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê D L 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (12/4/2023).

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Lê D L cho Ủy ban nhân dân Phường 5, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Đã giải thích chế định án treo)

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số 68020100700 mang tên Lê D L.

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 22/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê D L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ