vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Xuân T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt giữ 18/12/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số: 2034/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với 01 (một) sim điện thoại có dãy số 8984, 04800, 00720, 76199 và 01… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thái.

Bà Lê Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Khúc Văn Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân T; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/x/19xx, tại thành phố P, tỉnh N; nơi thường trú: tổ x, khu 1B, phường H, thành phố P, tỉnh N; nơi ở: tổ x, khu T1, phường T2, thành phố P, tỉnh N; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân Công ty than H2; đoàn thể: là Đảng viên (đã có quyết định khai trừ ngày 03/01/2023); trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Phạm Văn C và bà: Phạm Thị Q; có vợ: Trần Thị Tỵ; có 02 con: con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/12/2022, hiện tạm giam tại trại tạm giữ Công an thành phố Cẩm Phả - có mặt.

* Người làm chứng: anh Mai Văn D (vắng mặt không lý do).

* Người chứng kiến: anh Đinh Tuấn Đ, Trần Trung H1 (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hồi 17 giờ 55 phút ngày 18/12/2022, tại tổ 5, khu Đập Nước x, phường T3, thành phố P, tỉnh N, Phạm Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam ma túy, loại Heroine mục đích để bán, thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: thu giữ tại áo khoác bên phải, phía trước của T đang mặc 01 túi nilon kích thước khoảng (7x10,5)cm, trong túi nilon có 03 gói giấy màu trắng có cùng kích thước (2,5x1,3)cm đều chứa chất bột màu trắng tổng khối lượng 0,37 gam, 01 xi lanh và 02 tuýp nước cất và 01 điện thoại di động Samsung, màu vàng, lắp sim 0966.456.369, 01 xe mô tô Suzuki Viva, màu xanh, biển số 14K3-6139.

Tại Bản kết luận giám định số: 2034/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất bột màu trắng trong 03 túi nilon kích thước (2,5x1,3)cm thu giữ của Phạm Xuân T là ma túy, loại: Heroine, tổng khối lượng 0,37 gam.

Quá trình điều tra, Phạm Xuân T khai nhận: khoảng 16 giờ ngày 18/12/2022, T đang ở nhà thì Mai Văn D (sinh năm 1969 trú tại tổ 8, khu Hồng Thạch B, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm Phả) gọi điện nhờ mua hộ 02 liều ma túy Heroine, giá 500.000 đồng. T đồng ý và liên lạc với Hiền (không rõ lai lịch) hỏi mua 03 gói ma túy Heroine để bán lại cho D 02 gói còn 01 gói sẽ bán cho ai có nhu cầu. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 14Kx-xxxx đến sân bóng trung tâm, phường T3, thành phố Cẩm Phả mua của Hiền 01 túi nilon chứa 03 gói Heroine giá 600.000 đồng. Sau đó, T đi xe đến khu Tòa nhà vàng, phường T3, thành phố Cẩm Phả để bán ma túy cho D, trên đường đi thì bị Công an bắt giữ.

Người làm chứng Mai Văn D khai tại cơ quan điều tra như sau: khoảng 16 giờ ngày 18/12/2022, anh có nhu cầu dùng ma túy Heroine nên anh có gọi điện đến số 0966456369 cho anh Phạm Xuân T, sinh năm 19xx, chỗ ở hiện nay tại tổ x, khu T1, phường T2 là bạn uống Methadol cùng anh để mua 02 gói Heroine. Anh T đồng ý, một lúc sau anh T gọi điện lại cho anh nói giá 02 gói ma túy là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Anh T hẹn anh khoảng 17 giờ cùng ngày, T sẽ mang ma túy đến tòa nhà vàng thuộc phường Cẩm Thủy để giao dịch mua bán ma túy với anh. Đến khoảng 17 giờ 30 phút thì anh T gọi điện thoại cho anh đến tòa nhà vàng để giao dịch mua bán ma túy rồi T tắt máy luôn. Lúc này, anh không vay được tiền để mua ma túy của T nên anh từ bỏ ý định mua 02 liều ma túy của T. Anh đã đi xe mô tô ra điểm hẹn để gặp T thông báo anh không mua ma túy nữa nhưng không gặp T. Anh gọi điện cho T 02 cuộc nhưng T không nghe máy.

Người chứng kiến Đinh Tuấn Đ và Trần Trung H1 đều có lời khai chứng kiến việc Công an bắt quả tang Phạm Xuân T cất giấu ma túy trong người và thu giữ vật chứng. Anh Trần Trung H1 khai: vào khoảng 17 giờ 55 phút ngày 18/12/2022, anh có việc đi qua khu vực tổ x, khu N, phường T3, thành phố P, tỉnh N thì thấy lực lượng Công an đang kiểm tra, bắt giữ một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi, mặc áo khoác màu xanh, quần dài màu nâu đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Suzuki Viva. Anh đến gần xem thì thấy người đàn ông này khai nhận với Công an tên là Phạm Xuân T, sinh năm 19xx, trú tại tổ xx, khu xx, phường H, thành phố P, tỉnh N. Anh chứng kiến cơ quan Công an thu giữ tại túi áo khoác bên phải, phía trước của Phạm Xuân T đang mặc 01 túi Nilon có kích thước khoảng (7 x 10,5) m, trong túi Nilon có 03 gói giấy màu trắng có cùng kích thước khoảng (2,5 x 1,3) cm. Trong 03 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Thu giữ 01 xi lanh và 02 tuýp nước cất. Phạm Xuân T khai nhận 03 gói giấy chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine, T đang cầm mục đích để bán cho Mai Văn D. Thu trong túi quần bên trái, phía trước của Phạm Xuân T đang mặc 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung, màu vàng. Tạm giữ của Phạm Xuân T 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva màu xanh biển số 14Kx-xxxx, kiểm tra cốp xe không phát hiện gì. Sau đó Công an đưa anh T và mời anh về trụ sở làm việc. Tại đây, anh chứng kiến cơ quan Công an niêm phong vật chứng thu giữ của anh T theo đúng quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 40/CT - VKSCP ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 27 (hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt giữ 18/12/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 2034/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Quảng Ninh cùng với 01 (một) sim điện thoại, 01 (một) xi lanh và 02 (hai) tuýp nước cất; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng được xác định liên lạc mua bán ma túy với Mai Tiến D;

Giao chiếc xe mô tô Suzuki Viva biển kiểm soát xxKx - xxxx cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả tiếp tục điều tra làm rõ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo Phạm Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố.

Bị cáo thừa nhận việc bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Xuân T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với kết luận giám định số: 2034/KL- KTHS ngày 23/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh về khối lượng ma túy bị thu giữ; lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: hồi 17 giờ 55 phút ngày 18/12/2022, tại tổ x, khu N, phường T3, thành phố P, tỉnh N, Phạm Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để bán thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.

Hành vi của Phạm Xuân T đã phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương và tiếp tay cho các đường dây mua bán trái phép chất ma tuý. Ma túy là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Vê tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được Ủy ban nhân dân thành phố Cẩm Phả xác nhận có bố là ông Phạm Văn C được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cho dù giảm nhẹ hình phạt thì vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và răn đe.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về vật chứng: lượng ma túy hoàn lại sau giám định có trong 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số 2034/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu vàng được xác định dùng liên lạc trong hoạt động mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 sim điện thoại gắn với chiếc điện thoại Sam Sung cùng với 01 xi lanh và 02 tuýp nước cất không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng là chiếc xe mô tô Suzuki Viva, biển số xxKx-xxxx, T mượn của bố đẻ là ông Phạm Văn C, ông Chế không biết T dùng để mua bán ma túy; ông Chế khai mua chiếc xe trên của một người đàn ông không quen biết vào năm 2014, không viết giấy tờ mua bán, có giấy đăng ký xe nhưng đã bị mất. Qua xác minh xe đăng ký chủ sở hữu là ông Phạm Công Oanh, địa chỉ Vĩnh Tuy 1, phường Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; hiện nay, ông Oanh không còn ở tại địa chỉ trên, chưa làm rõ nguồn gốc chiếc xe nên giao cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả tiếp tục điều tra để làm rõ, xử lý sau.

[ [6] Về án phí: bị cáo Phạm Xuân T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với: đối với Hiền, theo T khai là người bán ma túy cho T, có đặc điểm: khoảng 50 tuổi, có chồng là Quang, số điện thoại xxxx.xxx.xxx, nhà ở khu vực cổng bệnh viện đa khoa Cẩm Phả; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có người nào tên Hiền, ở tại khu vực cổng bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả như lời khai của T và đề nghị Viettel Quảng Ninh tra cứu thông tin chủ thuê bao 0376.667.356 nhưng chưa có kết quả. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Phạm Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Xuân T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt giữ 18/12/2022.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong số: 2034/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với 01 (một) sim điện thoại có dãy số 8984, 04800, 00720, 76199 và 01 (một) xi lanh, 02 (hai) tuýp nước cất.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu vàng thu giữ của Phạm Xuân T. Tình trạng vật chứng được xử lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 105/BB - THA ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Giao chiếc xe mô tô Suzuki Viva biển kiểm soát xxKx - xxxx cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả để tiếp tục điều tra làm rõ. Tình trạng xe mô tô theo “PH1 nhập kho vật chứng” số: 18 ngày 02/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Phạm Xuân T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ