vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tam giữ, tạm giam 16/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày 02 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cẩn.

Thẩm phán:

Ông Vũ Văn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Đình Chúc

Ông Nguyễn Quang Bằng

Bà Đỗ Thị Kim Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Đại, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và điểm cầu Trại giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 21/5/1991 tại Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Y và bà Nguyễn Thị C; vợ là Dương Minh H và có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 38/2014/HSST ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2016, thi hành xong tiền án phí và tiền phạt vào tháng 11/2014. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim Q- Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH T, Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: số nhà 36, lô S5, khu đô thị C, phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc là: ông Trịnh Xuân Khoa, ông Hà Cao Hùng, ông Lê Văn Xuân - Cán bộ, chiến S thuộc Trại giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 16/12/2022, Nguyễn Văn S đang ở nhà tại thôn T, xã B, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, do có ý định mua ma túy đá, ma túy “ngựa” đem về sử dụng và bán cho những người có nhu cầu để kiếm lời nên S sử dụng số điện thoại của mình là 0974969686 gọi đến số điện thoại 0961787420 của một người tên T ở Vĩnh Yên (do người ngoài xã hội giới thiệu và cho số điện thoại, không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể), Nguyễn Văn S hỏi mua của T 01 gói ma túy đá và 02 “đàn ma túy ngựa’’, thỏa thuận với giá tiền 20.000.000 đồng, T đồng ý và hẹn đến tầng hai quán Cà phê xanh gần Quảng trường Hồ Chí Minh thuộc tổ dân phố Gốc Đề, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để mua bán ma túy. Sau đó Nguyễn Văn S gọi điện thoại cho hãng xe taxi Ngọc Lan để thuê xe taxi, đến khoảng 11 giờ 25 phút S nhận được cuộc gọi điện thoại của anh Thân Văn B (tên gọi khác là Thân Văn V), sinh năm 1970, ở tổ dân phố P, thị trấn T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là lái xe của hãng taxi Ngọc Lan. Nguyễn Văn S bảo anh Thân Văn B đến đón ở cổng trường tiểu học xã B Dương, khi gặp S bảo anh B chở đến quán Cà phê xanh ở Quảng trường Hồ Chí Minh thành phố Vĩnh Yên. Anh B điều khiển chở S đi, khi đến giữa đoạn đường phố đi bộ ở Quảng trường Hồ Chí Minh, S bảo anh B dừng xe. S gọi điện thoại cho T thì T bảo S chờ ở đó, khoảng 05 phút sau T một mình đi ô tô con màu sơn trắng (S không nhớ loại xe và biển kiểm soát) dừng đỗ phía sau xe taxi của anh B. S xuống xe đi đến cửa bên ghế phụ xe ô tô, T hạ kính xe ô tô xuống lúc này S thấy T đeo khẩu trang, S đưa số tiền 20.000.000 đồng cho T, T cầm tiền hẹn S đi lên tầng hai quán Cà phê xanh để giao ma túy và lái xe ô tô đi trước, S quay lại xe taxi và bảo anh B chở đến quán Cà phê xanh. Khoảng 05 phút sau anh B lái xe taxi đến cửa quán Cà phê xanh, S bảo anh B ở dưới xe taxi chờ còn S một mình đi lên tầng hai của quán, khi lên đến tầng hai thì thấy T vẫn đeo khẩu trang đang ngồi ở bàn trong cùng góc bên trái cửa ra vào của tầng hai. S đến ngồi cạnh, T lấy ra một gói giấy bạc và nói ở bên trong có một gói ma túy đá và hai “đàn ma túy ngựa’’ đưa cho S rồi rời đi ngay, S đúc gói giấy bạc vào trong túi áo khoác đang mặc, không để ý nên không biết T rời khỏi quán cà phê theo hướng nào. Sau đó Nguyễn Văn S đứng dậy đi ra cửa tầng hai để ra về thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra bắt giữ. Thu giữ vật chứng:

- Thu giữ tại túi áo khoác bên phải phía trước S đang mặc 01 gói giấy bạc, kiểm tra bên trong gói giấy bạc có 01 túi nilon kích thước 12cm x 07cm, bên trong túi nilon này chứa chất tinh thể dạng đá, màu trắng và 02 túi nilon màu xanh cùng có kích thước 09cm x 06cm, bên trong mỗi túi nilon đều chứa 200 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh, trên một mặt của mỗi viên đều in chìm ký tự “WY”. Nguyễn Văn S khai nhận đây là 01 gói ma túy đá và 02 gói ma túy “ngựa” vừa mua của T, toàn bộ các túi nilon trên được niêm phong vào trong một phong bì giấy, ký hiệu A1.

- Thu giữ tại túi áo bên trái phía trước của Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động Iphone 6Splus màu hồng, được ký hiệu M2.

- Thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Nguyễn Văn S đang mặc số tiền 4.000.000 đồng được niêm phong vào trong một phong bì giấy, ký hiệu A2.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn S tại thôn T, xã B, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét thu giữ trong buồng ngủ của Nguyễn Văn S:

- 03 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể dạng đá màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong vào trong một phong bì giấy, ký hiệu B1.

- 02 túi nilon trong đó: 01 túi nilon chứa 20 túi nilon nhỏ có kích thước 2,5cm X 1,8cm và 01 túi nilon chứa 30 túi nilon nhỏ có kích thước 09cm X 06cm.

- 01 cân tiểu ly điện tử màu đen mặt bên trong có ghi dòng chữ “Pocket scale”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định số 559 ngày 16/12/2022, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, giám định chất đã thu giữ được niêm phong ký hiệu A1, B1. Tại kết luận giám định số 3713/KL-KTHS ngày 21/12/2022, kết luận:

1. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có, khối lượng 104,6554g (Một trăm linh bốn phảy sáu năm năm bốn gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

2. Các viên nén màu đỏ và màu xanh, trên mặt của mỗi viên đều in chìm ký tự “WY” có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý có khối lượng 39,5225g (Ba mươi chín phảy năm hai hai năm gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.

3. Tinh thể dạng đá màu trắng đựng trong ba túi nilon của mẫu ký hiệu B1 gửi giám định có khối lượng lần lượt là 20,4204g (Hai mươi phảy bốn hai không bốn gam, không kể bao bì); 10,3848g (Mười phảy ba tám bốn tám gam, không kể bao bì); 16,9839g (Mười sáu phảy chín tám ba chín gam, không kể bao bì) đều không phát hiện thành phần chất ma tuý.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 95,7544gam tinh thể dạng đá; 36,4751gam viên nén “WY” của mẫu ký hiệu A1 và tinh thể của mẫu ký hiệu B1 lần lượt là 18,3722gam; 8,9231gam; 14,2196gam cùng bao gói được niêm phong trong một bao giấy gói “MẪU TRẢ”.

- Ngày 19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Văn S. Tại Bản kết luận giám định số 3675/KLGĐ ngày 26/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn S - SN: 1991, ĐKTT: Thôn Tứ Kỳ, xã B Dương, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Ký hiệu M1) gửi giám định.

- Ngày 27/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn S, ký hiệu M2. Tại Bản kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

Số thuê bao của thẻ sim lắp trong điện thoại di động gửi giám định là: 0974969686.

Có 58 cuộc gọi trong nhật ký cuộc gọi, 28 tin nhắn SMS trong điện thoại di động gửi giám định.

Kết quả xác định trong ngày 16/12/2022 có 13 cuộc gọi đến số 0961787420 được lưu tên “T Vĩnh Yên”, không có tin nhắn nào.

- Ngày 27/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín tại Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel), xác định thông tin cá nhân của 02 số điện thoại: 0974969686, 0961787420.

Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) có văn bản phúc đáp, xác định: Số điện thoại 0974969686 đăng ký tên chủ thuê bao là Nguyễn Văn S, SN: 1991, HKTT: Thôn T, xã B, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; số điện thoại 0961787420 đăng ký tên chủ thuê bao là Phạm Văn Hùng, SN: 1998, HKTT: Xã Định Hưng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 21/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Quyết định ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tiến hành làm việc với Phạm Văn Hùng. Cơ quan Cảnh sát điều tra

- Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa triệu tập nhưng Phạm Văn Hùng không có mặt tại địa phương.

Cáo trạng số: 49/CT-VKS-P1 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luận tội đối với bị cáo S: Giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Vật chứng vụ án xử lý theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm của Luật sư Nguyễn Thị Kim Q là Luật sư bào chữa cho bị cáo: hoàn toàn nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo S về tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của bị cáo là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội Nguyễn Kiều H là Liệt sĩ chống Mỹ; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để xác định:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 16/12/2022, tại khu vực tầng 2 quán Cà phê xanh gần Quảng trường Hồ Chí Minh thuộc tổ dân phố Gốc Đề, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang Nguyễn Văn S mua ma túy với mục đích để sử dụng và bán lại để kiếm lời. Thu giữ trong túi áo khoác của Nguyễn Văn S 01 gói giấy bạc bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể dạng đá, màu trắng và 02 túi nilon màu xanh, mỗi túi bên trong chứa 200 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh, trên một mặt mỗi viên in chữ chìm ký tự “WY”. Theo Kết luận giám định tất cả các túi nêu trên đều là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 144,1779 gam. Thu giữ trong người bị cáo 01 điện thoại Iphone 6Splus màu hồng và 4.000.000 đồng. Khám xét nơi ở của S, Cơ quan điều tra thu giữ 01 cân tiểu ly màu đen và 02 túi nilon màu trắng (trong đó 01 túi chứa 20 túi nilon kích thước 2,5cm x 1,8cm và 01 túi nilon chứa 30 túi nilon có kích thước 09cm x 06cm) là công cụ để bị cáo cân, chia nhỏ ma túy để bán kiếm lời và thu giữ 03 túi đựng chất tẩy rửa quần áo không liên quan tới ma túy.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung là “Methamphetamine có khối lượng 100g trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“ …

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a,………..

b, ….Methamphetamine, ….. có khối lượng 100 gam trở lên”.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Mua bán trái phép ma túy từ đó dẫn đến việc sử dụng ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, kinh tế của người nghiện, dẫn con người đến đời sống không lành mạnh, có thể phá hoại hạnh phúc gia đình, làm xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, từ việc mua bán, sử dụng ... trái phép ma túy còn là nguyên nhân, nguồn gốc gây ra nhiều loại tệ nạn xã hội, cũng như nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn S mua nhiều loại ma túy với số lượng là rất lớn. Với khối lượng ma túy bị cáo mua mà không bị bắt, bị cáo bán ra ngoài xã hội thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng, có thể sẽ có nhiều đối tượng sẽ mua bán, sử dụng... tạo ra một lớp người nghiện từ đó sẽ gây ảnh hưởng lớn, rất xấu cho xã hội.

Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2014, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù và phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng về cùng loại tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, đã được xóa án tích nhưng cũng thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo biện pháp trừng trị riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông nội Nguyễn Kiều H là Liệt sĩ chống Mỹ và được tặng Huân chương kháng chiến; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với những đối tượng có liên quan: Đối với đối tượng T ở Vĩnh Yên bán ma túy cho Nguyễn Văn S, do người lạ ngoài xã hội giới thiệu, khi gặp T luôn đeo khẩu trang, S không biết mặt, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để Cơ quan điều tra, xác minh, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu sau này phát hiện tiếp tục truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Đối với anh Thân Văn B là lái xe taxi chở Nguyễn Văn S đến quán Cà phê xanh, S không nói mục đích đến để mua ma túy, anh B không biết và không tham gia nên không đề cập xử lý. Đối với Phạm Văn H là người đứng tên đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0961787420, Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập đối với Phạm Văn H nhưng không có mặt tại địa phương, vì vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu có hành vi phạm tội sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn S như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản nên chỉ cần xử phạt bị cáo mức 5.000.000 đồng là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với toàn bộ số vật chứng là ma túy còn lại sau giám định (ký hiệu A1); 01 túi nilon bên trong chứa 20 túi nilon nhỏ; 01 túi nilon bên trong chứa 30 túi nilon nhỏ và 01 cân tiểu ly điện tử là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Tiêu hủy 03 túi nilon chứa tinh thể dạng đá màu trắng là chất tẩy rửa không có giá trị sử dụng, bị cáo yêu cầu tiêu hủy (kí hiệu B1);

- Tiêu hủy bao gói sau giám định về mẫu nước tiểu.

- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Splus màu hồng của Nguyễn Văn S là phương tiện S sử dụng để liên lạc mua ma túy với T.

- Trả lại Nguyễn Văn S số tiền 4.000.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tam giữ, tạm giam 16/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là ma túy còn lại sau giám định (ký hiệu A1); 01 túi nilon bên trong chứa 20 túi nilon nhỏ; 01 túi nilon bên trong chứa 30 túi nilon nhỏ và 01 cân tiểu ly điện tử là vật chứng của vụ án.

- Tiêu hủy bao gói sau giám định về mẫu nước tiểu.

- Tiêu hủy 03 túi nilon chứa tinh thể dạng đá màu trắng là chất tẩy rửa (kí hiệu B1).

- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Splus màu hồng của Nguyễn Văn S.

- Trả lại Nguyễn Văn S số tiền 4.000.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2023 giữa Công an tỉnh Vĩnh Phúc và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;

- Công an tỉnh Vĩnh Phúc;

- Trại Tạm giam CA. tỉnh Vĩnh Phúc;

- Phòng Tham mưu- CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;

Nguyễn Huy Cẩn

- Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;

- Lưu HS, Toà HS, Thẩm phán.

Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Mạnh

Nguyễn Huy Cẩn

Trần Văn Thái

Vũ Văn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân

Các Hội thẩm nhân dân

Phùng Đình Chúc

Nguyễn Quang Bằng

Đỗ Thị Kim Thúy

Phùng Đình Chúc

Đỗ Thị Kim Thúy

Nguyễn Văn An

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ