vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T, Huỳnh Ngọc Q phạm tội “Đánh bạc ”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức L 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02(hai) năm tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T, Huỳnh Ngọc Q phạm tội “Đánh bạc ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày: 21- 3- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Kim Nghĩa

2. Ông Lê Văn Khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLHS-ST, ngày 07 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/Lê Đức L; sinh năm 1970, tại: Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú: Số M đường Tỉnh Lộ 10, khu phố 18, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C(Đã chết) và bà Trần Thị B(Đã chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Kim L, sinh năm 1967 và có 02 con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại(Có mặt).

2/Nguyễn Văn M, sinh năm 1967, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số L đường Bình Trị Đông, khu phố 18, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Thái Diệu P(Đã chết) và bà Nguyễn Thị T(Đã chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Ngô Thị Thanh T(Đã chết); có 02 con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000, tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

3/Lê Anh T; sinh năm 1982, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số K đường Hồ Học Lãm, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Mạnh X(Đã chết) và bà Phan Thị E(Đã chết); hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

4/Huỳnh Ngọc Q, sinh năm 1963, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số H đường Bình Trị Đông, khu phố 18, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Ngọc L (Đã chết) và bà Bùi Thị L(Đã chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Lê Thị Thu T, sinh năm 1979 và có 01 con sinh năm 1979; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 11/12/1996 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1992; thời hạn tù tính từ ngày 11/4/1996. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/1996, đóng án phí ngày 03/12/2004. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Người làm chứng:

1/Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1997; Trú tại: Số V đường Tỉnh Lộ 10, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2/Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1982; Trú tại: Số F đường Mã Lò, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 18/9/2022, Công an phường Bình Trị Đông B tiến hành kiểm tra phòng Ruby quán Xuân T, địa chỉ số Y Tỉnh lộ 10, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân phát hiện Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T và Huỳnh Ngọc Q đang đánh bài binh xập xám ăn thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng của vụ án. Vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ của vụ án

- 01 bộ bài 52 lá, 02 cục xí ngầu

- Thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 10.150.000 đồng, trong đó: L 1.100.000 đồng, Minh 150.000 đồng, T 5.200.000 đồng, Q 3.700.000 đồng.

- Thu giữ của Nguyễn Văn M: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 đã qua sử dụng, dùng liên lạc cá nhân; số tiền 18.500.000 đồng: trong đó Minh dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 16.500.000 đồng không dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Lê Anh T: 01 điện thoại di động hiệu Galaxy Fold 3 đã qua sử dụng, dùng liên lạc cá nhân; số tiền 18.500.000 đồng là tiền cá nhân, không dùng để đánh bạc.

- Thu giữ của Huỳnh Ngọc Q: 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng, dùng liên lạc cá nhân.

- Thu giữ của Lê Đức L: 01 điện thoại di động hiệu Oppo đã qua sử dụng, dùng liên lạc cá nhân; số tiền 8.000.000 đồng là tiền cá nhân, không dùng để đánh bạc.

Tất cả các vật chứng trên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xét xử.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 18/9/2022, Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T, Huỳnh Ngọc Q rủ nhau đến quán Xuân T, địa chỉ Y Tỉnh lộ 10, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân nhậu cùng bạn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, L, Minh, T và Q cùng rủ nhau vào phòng Ruby quán Xuân T để chơi đánh bài binh xập xám ăn tiền. Các bị cáo quy định mỗi người làm cái 02 ván xoay vòng, trong mỗi ván các con bạc so bài lần lượt với nhau để tính số chi thắng thua của từng người, mỗi chi được quy định là 50.000 đồng (các bị cáo nhờ nhân viên quán mua dùm một bộ bài 52 lá, hai cục xí ngầu nhưng không nhớ cụ thể nhân viên quán là ai). Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, các bị cáo đang chơi đánh bài ăn tiền thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. Tại thời điểm bị bắt giữ, bị cáo Lê Đức L mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, thắng cược 100.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn M mang theo số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc (thu trong người 2.000.000 đồng), thua 850.000 đồng; bị cáo Lê Anh T mang theo số tiền 4.800.000 đồng để đánh bạc, thắng cược 400.000 đồng; bị cáo Huỳnh Ngọc Q mang theo số tiền 3.350.000 đồng để đánh bạc, thắng cược 350.000 đồng. Khi Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 10.150.000 đồng, thu trong người bị cáo Minh 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc, Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 12.150.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Tại bản cáo trạng số: 76/CTr-VKS, ngày 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố các bị cáo Lê Đức L; Nguyễn Văn M; Lê Anh T; Huỳnh Ngọc Q về tội “Đánh bạc” theo qui định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sủa đổi bổ sung 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T từ 01 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo qui định pháp luật.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sủa đổi bổ sung 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Q từ 01 năm 03 tháng đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách theo qui pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.150.000 đồng tiền đánh bạc (trong đó bị cáo L đánh bạc với số tiền 1.100.000 đồng; Bị cáo Minh đánh bạc với số tiền 2.150.000 đồng, thu giữ trong người bị cáo Minh 2.000.000 đồng; Bị cáo Anh T đánh bạc với số tiền 5.200.000 đồng; Bị cáo Q đánh bạc với số tiền 3.700.000 đồng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M số tiền 16.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng.

Trả lại cho bị cáo Lê Anh T số tiền 18.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Galaxy Fold 3.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Ngọc Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

Trả lại cho bị cáo Lê Đức L số tiền 8.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo; Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá ; 02 hạt xí ngầu.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra truy tố các bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với tang vật vụ án được thu giữ, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận. Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T, Huỳnh Ngọc Q phạm tội: “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là một trong những tệ nạn xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, bị pháp luật nghiêm cấm. Ngoài ra, từ việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác và còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra, các bị cáo đã ngang nhiên ra các hình thức đánh bạc ăn thua bằng tiền và qua đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm ảnh hưởng đến cuộc sống yên ổn của nhiều gia đình trong cộng đồng xã hội, thậm chí còn gây đổ vỡ hạnh phúc, gia đình ly tán vì tệ nạn cờ bạc.

Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy trong vụ án này mặc dù các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc của mỗi bị cáo khác nhau do đó các bị cáo phải chịu mức hình phạt khác nhau là phù hợp.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Xét các bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo khác phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Q mặc dù có nhân thân xấu nhưng đối chiếu qui định tại điểm a mục 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo thuộc trường người đã bị kết án nhưng được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn là lao động chính trong gia đình. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, xét cho các bị cáo được hưởng mức án có thời gian thử thách tạo điều kiện cho các bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, đồng thời thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đối với người mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn hối cải. Do đó để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo L, Minh, T theo qui định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo Q theo theo qui định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án nên miễn phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng : Đối với số tiền 55.150.000 đồng thu giữ trong vụ án. Trong đó 12.150.000 đồng là tiền đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá; 02 hạt xí ngầu các bị cáo sử dụng để đánh bạc Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 16.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn M không liên quan đến vụ án Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M.

Đối với số tiền 18.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Galaxy Fold 3 thu giữ của bị cáo Lê Anh T không liên quan đến việc đánh bạc Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 8.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo thu giữ của bị cáo Lê Đức L không liên quan đến việc đánh bạc Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Lê Đức L.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố các bị cáo Lê Đức L, Nguyễn Văn M, Lê Anh T, Huỳnh Ngọc Q phạm tội “Đánh bạc ”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Đức L 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02(hai) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01(một) năm 03(ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02(hai) năm 06(sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, Quận Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01(một) năm 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03(ba) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Q 01(một) năm 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03(ba) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, b khoản 2 điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.150.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá; 02 hạt xí ngầu.

Trả lại cho bị cáo Lê Đức L số 8.000.000 VNĐ đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M số tiền 16.500.000VNĐ đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Trả lại cho bị cáo Lê Anh T số tiền 18.500.000 VNĐ đồng và 01 điện thoại di động hiệu Galaxy Fold 3 ngay sau khi án có hiệu lức pháp luật.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: NK23/82TAM ngày 10/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân và giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước ngày 01/3/2023).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Q Hội và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Q Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

(Chủ tọa đã giải thích chế định về án treo)

Cỡ chữ