vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 02/02/2023. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn H - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày 25-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tâm và bà Nông Diệu Huế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 54/2023/TLST-HS ngày 21/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với:

Bị cáo Hứa Văn H, tên gọi khác: không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 4 năm 199x tại thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Hộ khẩu thường trú: Xóm N, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 1/12; Con ông Hứa Khắc L và bà Đặng Thị D; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/6/2008 Công an huyện Trùng Khánh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Ngày 05/01/2010 Công an huyện Trùng Khánh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Ngày 13/6/2012 Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 02/02/2023 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 196a. Nơi cư trú: Xóm N, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Hoàng Văn T, sinh năm 198b. Nơi cư trú: Xóm N, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không có lý do.

+ Mông Văn A, sinh năm 199c. Nơi cứ trú: Xóm L, xã X, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua tin báo tố giác của quần chúng nhân dân, hồi 10 giờ ngày 02/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thi hành Lệnh khám xét người và chỗ ở đối với Hứa Văn H. Quá trình khám xét phát hiện tại buồng ngủ phía trước ngôi nhà gồm có: 01 túi ni lông màu trắng, bên ngoài quấn dây chun màu đen, bên trong túi có 13 gói nhỏ là các cục chất bột màu trắng; 01 cuộn giấy bạc màu trắng; 01 chiếc kéo bằng kim loại; 02 ống tre màu xám; 01 túi ni lông trong suốt bên trong có số tiền 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xanh đen, bàn phím bấm, điện thoại đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354586090347048, số IMEI 2: 354586090347055; trên bàn trang điểm số tiền 5.700.000 đồng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu vàng nhạt, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350017085620409, số IMEI 2: 350017085980266; trên giường ngủ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím bấm, điện thoại đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353102111227242, số IMEI 2: 353102111700040. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra lệnh giữ người trong trường khẩn cấp và niêm phong vật chứng cùng đồ vật liên quan theo đúng quy định của pháp luật.

Hồi 14 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ đối với Hứa Văn H có khối lượng 1,38 gam. Tại kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Hứa Văn H khai nhận: khoảng 19 giờ ngày 01/02/2023, H một mình đi bộ đến nhà Nông Văn Th, sinh năm 196d, trú tại Tổ dân phố 2, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó H đem về nhà sử dụng và chia nhỏ ra được 13 gói cho vào túi nhựa trong suốt cất giấu tại rổ nhựa để trên thùng nhựa sát bàn trang điểm ở gian buồng ngủ phía trước. Đến khoảng 10 giờ ngày 02/02/2023 thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đến khám xét và phát hiện thu giữ số ma túy trên. Mục đích bị cáo mua ma túy về vừa để sử dụng vừa để bán. Trước khi bị bắt thì H bán ma túy từ cuối năm 2022 cho nhiều người, nhưng chỉ nhớ những người sau: Hoàng Văn T 05 lần, mỗi lần 200.000 đồng, chỉ nhớ lần cuối vào trưa ngày 01/02/2023; Mông Văn A 01 lần với số tiền 200.000 đồng, thời gian vào tháng 12 năm 2022.

Vật chứng và tài sản tạm giữ xác định được: Số tiền 35.700.000đ là của Nguyễn Thị X (bị cáo sống chung nhà với bà X). 01 điện thoại di động nhãn H Viettel, màu xanh đen, bàn phím bấm đã qua sử dụng là của bị cáo nhưng đã lâu bị cáo không sử dụng. 01 điện thoại di động, nhãn H Iphone, màu vàng nhạt, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng là của Nguyễn Thị X cho bị cáo mượn. 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, bàn phím bấm đã qua sử dụng là của bị cáo dùng để liên lạc với gia đình, bạn bè và trao đổi mua bán ma túy. Các mảnh giấy bạc, túi ni lông, dây chun, kéo, ống tre là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để cắt, gói, sử dụng và mua bán ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKSTK ngày 21/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Hứa Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2011 nên đã mua về để sử dụng và bắt đầu bán kiếm lời từ cuối năm 2022. Hình thức giao dịch là một số người trực tiếp đến gặp đưa tiền thì bị cáo đưa ma túy, một số người điện thoại cho bị cáo rồi hẹn địa điểm mua bán ma túy. Nguồn gốc ma túy thu giữ bị cáo mua với ông Nông Văn Th, sinh năm 196d, trú tại Tổ dân phố 2, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên việc mua bán chỉ có bị cáo với ông Th biết, cũng không có tài liệu gì để chứng minh. Trước khi bị bắt thì bị cáo được bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ Hoàng Văn T và Mông Văn A với số lần, số tiền như Cáo trạng đã truy tố. Đối với số tiền 35.700.000đ và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone là của Nguyễn Thị X, bị cáo nhận bà X là chị gái nuôi và đến sống tại nhà của bà X. Việc bị cáo sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy bà X hoàn toàn không biết. Trong số hai điện thoại của bị cáo thì chiếc nhãn hiệu NOKIA dùng vào việc trao đổi mua bán ma túy. Đối với những vật dụng túi ni lông, giấy bạc, kéo… là công cụ, phương tiện sử dụng, mua bán ma túy của bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị X khai: Sau khi được bố mẹ H tặng cho miếng đất thì bà tiến hành xây nhà để ở tại thị trấn Tr. Do là chỗ thân quen hai gia đình nên bà nhận H là em nuôi, sau đó cho H ăn ở tại nhà của bà. Trong quá trình sinh sống bà hoàn toàn không biết H sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy. Khi cơ quan chức năng đến khám xét thì có thu giữ số tiền 35.700.000đ và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone trong buồng ngủ của bà. Nay đề nghị Hội đồng xét xử trả lại toàn bộ tài sản trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ, mẫu vật hoàn lại và toàn bộ các mảnh túi nilon, 01 kéo bằng kim loại, ống tre, các mảnh giấy bạc, dây chun; Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL; Trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 35.700.000đ và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. Truy thu bị cáo số tiền 1.200.000đ để sung quỹ Nhà nước; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản khám xét khẩn cấp và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ ngày 02/02/2023, tại xóm N, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh thi hành Lệnh khám xét người và chỗ ở đối với Hứa Văn H phát hiện H đang tàng trữ trái phép 1,38gam ma túy, loại Heroine. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Từ cuối năm 2022 đến ngày bị bắt bị cáo đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người nhưng chỉ nhớ tên Hoàng Văn T 05 lần và Mông Văn A 01 lần đều với giá 200.000đ/gói thu được số tiền 1.200.000đ.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác tại địa phương, nhưng vì nghiện nên đã bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo bán ma túy nhiều lần, mỗi lần đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.

Xét về nhân thân: Bị cáo biết sử dụng và bán ma túy trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt về tội này nhưng sau khi mãn hạn tù trở về địa phương vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo, nên là người có nhân thân xấu. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm đang có chiều hướng gia tăng hiện nay. Xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì thư được niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng ( túi ni lông, chất bột màu trắng, dây chun, mảnh giấy gói) thu giữ ngày 02/02/2023”; 01 phong bì thư được niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hứa Văn H xảy ra ngày 02/02/2023”; 01 phong bì thư được niêm phong, mặt trước ghi “cuộn giấy bạc, kéo, ống tre, mảnh túi ni lông màu đen, túi ni lông trong suốt, dây chun màu đen”.

- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại phím bấm đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu xanh, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 35.700.000đ (ba mươi lăm triệu bẩy trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhạt.

. Về khoản thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ được bị cáo đã bán ma túy 06 lần cho 02 người thu về số tiền 1.200.000đ. Do đó cần phải truy thu số tiền này để nộp ngân sách Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

. Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai được mua với Nông Văn Th, sinh năm 196d, trú tại Tổ dân phố 2, thị trấn Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên việc mua bán chỉ có bị cáo với ông Th biết, cũng không có tài liệu gì để chứng minh. Qua khám xét nhà Th không thu giữ được ma túy, tiến hành đối chất Thắng cũng không thừa nhận được bán ma túy cho H. Do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện không có căn cứ xử lý Th trong cùng vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hứa Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 02/02/2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì thư được niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng ( túi ni lông, chất bột màu trắng, dây chun, mảnh giấy gói) thu giữ ngày 02/02/2023”; 01 phong bì thư được niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Hứa Văn H xảy ra ngày 02/02/2023”; 01 phong bì thư được niêm phong, mặt trước ghi “cuộn giấy bạc, kéo, ống tre, mảnh túi ni lông màu đen, túi ni lông trong suốt, dây chun màu đen”.

- Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại phím bấm đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu xanh, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 35.700.000đ (ba lươi lăm triệu bẩy trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng nhạt.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

4. Truy thu bị cáo số tiền 1.200.000đ để sung quỹ Nhà nước.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hứa Văn H phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331,333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ