- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn Dương - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 12 - 7 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, ông Tao Văn Xanh
- Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HS ngày 29/6/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn D – Sinh năm 1984 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Lù Văn Ương; Nơi cư trú: bản Ta P, xã Noong H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lù Văn O – đã chết; Con bà: Lù Thị U, tên gọi khác là Quàng Thị U – sinh năm 1943. Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ 08 trong gia đình; Vợ: Lù Thị Ch (đã ly hôn), vợ Vì Thị Nh – sinh năm 1999, bị cáo có ba con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không.
Tiền án: bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 08/2020/HS – ST ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lù Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/12/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án. Đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2010/HS-ST ngày 26/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, Lù Văn D bị áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của bản án này nên đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/02/2023, bị tạm giam từ ngày 17/02/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vì Thị Nh – sinh năm 1999 – Vắng mặt Địa chỉ: Bản Ta P, xã Noong H, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
*Người làm chứng: 1. Anh Chang A Đ – sinh ngày 24/01/2005 – Vắng mặt Địa chỉ: Bản Ngài Th, xã Căn C, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 2. Anh Giàng A V – sinh năm 1999 – Vắng mặt Địa chỉ: Bản Cư Nhà L, xã Sùng Ph, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 11 giờ ngày 06/02/2023, bị cáo Lù Văn D một mình điều khiển xe mô tô không nhớ biển kiểm soát (D mượn của bố vợ là ông Vì Văn X, trú tại bản Cuổi N, xã Nậm C) đi từ nhà ở đến Trung tâm y tế huyện Sìn Hồ để lấy thuốc ARV điều trị HIV cho bản thân. Sau khi lấy thuốc xong, D vào bản Hoàng Hồ, xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ tìm mua Heroine với mục đích mang về để sử dụng và bán kiếm lời, đến nơi D gặp một người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 45 tuổi, không rõ lai lịch. D hỏi và mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 700.000 đồng. Mua được Heroine, D mang về chia nhỏ ra rồi lấy mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và giấy màu trắng loại giấy vệ sinh gói lại được 24 gói, sau đó lấy một mảnh nilon màu hồng gói lại thành một gói rồi cất giấu ở dưới đống phế liệu ngoài hiên phía trước nhà không cho ai biết, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Từ ngày 06 đến ngày 08 tháng 02, Dương đã sử dụng hết 02 gói, còn 22 gói vẫn cất giấu chỗ cũ.
Koảng 14 giờ ngày 08/02/2023, tại khu vực ngã tư thuộc bản Noong Hẻo 2, xã Noong Hẻo, Giàng A V gặp Chang A Đ . Vảng nhờ Đ dẫn đi tìm mua ma túy và hứa sẽ cho Đ sử dụng cùng, Đ đồng ý, V điều khiển xe mô tô chở Đ đến nhà D để mua Heroine cùng nhau sử dụng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đến gần cồng phía sau nhà của D, V đưa cho Đ số tiền 300.000 đồng để mua ma túy, do cổng khóa bên trong nên Đạch đứng ở sát cổng gọi hỏi D mua 300.000 đồng Heroine, D đồng ý. Lúc này vợ của D tên là Vì Thị Nh đang ở hiên phía trước nhà nghe tiếng có người gọi ở ngoài cổng phía sau nhà nên đi ra để mở cổng. Thấy người lạ, Nhân không mở cổng mà quay vào nhà, đi đến cửa sổ, chỗ D đang ngồi ghế ở bên trong, D bảo N ra cổng lấy giúp tiền từ chỗ Đ nhưng không nói đó là tiền gì. Nhân ra cổng nhận tiền của Đạch rồi quay vào đưa qua song cửa sổ cho D. Nhận tiền xong, D ra góc hiên phía trước nhà lấy gói nilon đựng 22 gói Heroine cất giấu dưới đống phế liệu mang vào nhà, sau đó lấy 03 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ, đưa qua song cửa sổ bảo Nh mang ra cổng cho Đạch nhưng D không nói cho Nhân biết đó là 03 gói Heroine và N cũng không biết bên trong 03 gói đó là Heroine. Số ma túy còn lại D cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, còn số tiền 300.000 đồng bán ma túy có được, D để trên giường ngủ, sau đó bảo Nhân cầm để mang đi trả tiền sửa chữa xe mô tô.
Mua được Heroine, V và Đ đi được khoảng 300m cùng nhau sử dụng hết 01 gói, 02 gói còn lại Đ cầm trên tay trái, Vảng điều khiển xe mô tô chở Đạch đến bản Noong Hẻo 2, xã Noong Hẻo thì dừng xe để đưa Heroine cho Vảng. Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày 08/02/2023, tại bản Noong Hẻo 2, xã Noong Hẻo, khi Chang A Đ vừa đưa 02 gói Heroine cho Giàng A V thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ bắt quả tang, thu giữ. Giàng A V và Chang A Đ khai nhận 02 gói Heroine có được là do V đưa tiền cho Đ mua của Lù Văn D. Ngoài ra còn tạm giữ của Giàng A V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave, không gắn biển kiểm soát. Ngay sau đó, Cơ quan điều tra đã thi hành lênh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Lù Văn D. Khi phát hiện thấy lực lượng Công an đến nhà, Dương chạy từ phòng ngủ ra cửa bếp, cầm gói nilon màu hồng, bên trong chứa 19 gói Heroine, gồm: 18 gói được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 gói được gói bằng mảnh giấy trắng (loại giấy vệ sinh) đang cất giấu trong túi quần đang mặc ra ném qua tường rào phía sau nhà thì bị mắc ở cây xương rồng bờ rào nên lực lượng Công an phát hiện, thu giữ. Sau khi bị khống chế, D đã tự giác bảo vợ là Vì Thị N lấy số tiền 300.000 đồng do Dương bán ma túy mà có đưa cho Dương để giao nộp cho Cơ quan điều tra. Số ma túy thu giữ của bị cáo mục đích để bán kiếm lời.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
0,04 gam Heroine thu giữ của Giàng A V và trích và trích 0,14 trong số 1,9 gam Heroine thu giữ của Lù Văn D gửi đi giám định chất ma túy, không hoàn lại các mẫu vật sau khi giám định.
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave, không gắn biển kiểm soát, tạm giữ của Giàng A Vảng. Xét thấy hành vi của Giàng A V không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 09/2/2023 Cơ quan điều tra đã quyết định trả tự do đối với Giàng A V và quyết định xử lý tài sản, trả lại chiếc xe mô tô cho Giàng A V.
Kết luận giám định tư pháp số 15, 16 cùng ngày 09/02/2023 của người giám định theo vụ việc, kết luận: 19 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn D có tổng khối lượng 1,90 gam, đã trích 0,14 gam gửi đi giám định chất ma túy, vật chứng còn lại 1,76 gam; 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Giàng A V có tổng khối lượng 0,04 gam, đã gửi toàn bộ đi giám định chất ma túy.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 20 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh và 1,76 gam Heroine. Đối với số tiền 300.000 đồng, Kết luận giám định số tiền 300.000 đồng là tiền thật.
Tại bản Kết luận giám định số 167, 168/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: các mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Bản cáo trạng số 40/CT - VKSSH ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Lù Văn D ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử Lù Văn Dvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lù Văn D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 20 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh và 1,76 gam Heroine. Tịch thu, nộp ngân sách đối với số tiền 300.000 đồng.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của Vì Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nhân không biết, số tiền 300.000 đồng là tiền của bị cáo nhờ Nhân cầm hộ không biết là tiền gì. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của người làm chứng, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nhất trí với các lời khai trên và không có ý kiến gì.
Bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 15 giờ ngày 08/02/2023, tại nhà ở của Lù Văn D sinh năm 1984, tại bản Ta P, xã Noong H, huyện Sìn H, bị cáo Lù Văn Dương đã thực hiện hành vi bán trái phép 0,04 gam Heroine cho Chang A Đ trú tại bản Ngài Thầu, xã Căn Co, huyện Sìn Hồ lấy 300.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Lù Văn Dương còn tàng trữ trái phép 1,9 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Bị cáo Lù Văn Dương phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng chất ma túy túy là (1,9 + 0,04 = 1,94 gam Heroine).
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích bán ma túy để kiếm lời cho bản thân bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã có một tiền án, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 20 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh và 1,76 gam Heroine (đã được niêm phong). Tịch thu, nộp ngân sách đối với số tiền 300.000 đồng
Về các vấn đề liên quan: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lù Văn Dương khai là mua của một người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 45 tuổi, không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Giàng A V và Chang A Đ, đã tàng trữ trái phép 0,04 gam Heroine để sử dụng, V và Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và không bị kết án về các tội quy định tại các Điều từ 248 đến Điều 252 Bộ luật Hình sự. Khối lượng ma túy V và Đ tàng trữ không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với Giàng A V và Chang A Đ là đúng quy định.
Đối với Vì Thị Nh, sinh năm 1999 (là vợ của Lù Văn D), là người trực tiếp nhận tiền của Chang A Đ đưa cho Lù Văn D và là người trực tiếp đưa 03 gói ma túy từ D cho Chang A Đ. Quá trình điều tra xác định Lù Văn D không nói cho N biết 03 gói Dương nhờ đưa cho Đạch là ma túy và số tiền 300.000 đồng là tiền Dương bán ma túy mà có. Bản thân Vì Thị N không biết bên trong 03 gói D bảo đưa giúp cho Đ là Heroine và số tiền 300.000 đồng nhận từ Đ là tiền Dương bán ma túy ma có. Do đó, không có căn cứ để kết luận Vì Thị Nhân đồng phạm với bị cáo Lù Văn Dương về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52. Khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
1. Tuyên bố bị cáo Lù Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lù Văn D: 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy: 20 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy vệ sinh và 1,76 gam Heroine (đã được niêm phong). Tịch thu, nộp ngân sách đối với số tiền 300.000 đồng (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 9 giờ 35 phút ngày 20/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ; - Công an huyện Sìn Hồ; - Bị cáo; - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |