vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trương Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG THỊ LOAN - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 luật Giao thông đường bộ; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST
Ngày: 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Ninh,

2. Ông Phạm Xuân Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Trương Thị L, sinh ngày 20/10/1989; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S và bà Nguyễn Thị Hải L; chồng Nguyễn Văn L (đã chết); có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1954 (đã chết); địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Q.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh L: Ông Trần Trọng L, sinh năm 1984; địa chỉ: Khóm 1, phường 1, thành phố B, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 00 ngày 24/6/2023, tại Km 676+600m đường Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn Dinh Mười, xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, Trương Thị L trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Q, điều khiển xe mô tô BKS 73G1-241.10 chạy theo hướng Bắc - Nam, (chở theo sau con gái là Nguyễn Khánh M, sinh năm 2017) đi trên phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe liền trước nên va chạm với ông Trần Thanh L (sinh năm 1942, trú tại thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Q) đang đi xe đạp cùng chiều phía trước trên phần đường dành cho xe thô sơ; hậu quả: Bị cáo và ông Trần Thanh L bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, đến ngày 03/7/2023 thì ông Trần Thanh L tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 99/KLGĐTT-TTGĐYK-PY ngày 10/8/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - pháp Y tỉnh Quảng Bình giám định; kết luận: Nguyên nhân chết của ông Trần Thanh L do đa chấn thương, gồm: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương cột sống, thắt lưng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh tạm giữ: 01 (một) xe mô tô BKS 73G1-241.10; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 791127126387 mang tên Trương Thị L do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 18/02/2020; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022591, xe mô tô BKS 73G1-241.10 mang tên Trương Thị L do Công an huyện Quảng Ninh cấp ngày 06/02/2020; 01 (một) xe đạp nam bị hư hỏng.

Ngày 08/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho Trương Thị L: 01 (một) xe mô tô BKS 73G1-241.10, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 022591, xe mô tô BKS 73G1-241.10 mang tên Trương Thị L do Công an huyện Quảng Ninh cấp ngày 06/02/2020;

Trả lại cho anh Trần Trọng L, sinh năm 1983; địa chỉ: Khóm 1, phường 1, thành phố B, tỉnh B là người đại diện hợp pháp của bị hại: 01 (một) xe đạp nam bị hư hỏng.

01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số 791127126387 mang tên Trương Thị L do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 18/02/2020 đang được tạm giữ chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Trương Thị L hỗ trợ chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Trọng L đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng và có Đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trương Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Qua tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trương Thị Loan từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng; riêng Giấy phép lái xe đang tạm giữ, nay đề nghị trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị L khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng; bị cáo khai: Tại Km 676+600m đường Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn Dinh Mười, xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, khi đang điều khiển xe mô tô BKS 73G1-241.10 chạy theo hướng Bắc – Nam chở theo sau con gái Nguyễn Khánh M không đi đúng phần đường, làn đường, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe liền trước nên va chạm với xe đạp do ông Trần Thanh L đang điều khiển chạy cùng chiều phía trước trên phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 luật Giao thông đường bộ; hậu quả làm ông Trần Thanh L tử vong do Đa chấn thương; lỗi chủ yếu do bị cáo gây ra; thực hiện hành vi phạm tội thuộc lỗi vô ý. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là người có giấy phép lái xe hợp lệ, có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội thuộc vô ý. Nhưng hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thị L là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra vụ án cũng như xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đều tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện qua việc không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền cơ sở, chưa cần thiết phải cách ly ra ngoài xã hội, không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù, cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo; Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Trong vụ án, cháu Nguyễn Khánh M bị phần mềm, không bị thương tích và ảnh hưởng gì đến sức khỏe, không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Các vật chứng, giấy tờ tạm giữ để điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sử hữu và người đại diện hợp pháp chủ sở hữu đúng theo quy định của pháp luật, không ai có ý kiến, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng Giấy phép lái xe đang tạm giữ, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật hình sự, trả lại cho bị cáo Trương Thị L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Thị L đã bồi thường, hỗ trợ chi phí mai táng nạn nhân, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại anh Trần Trọng L không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Vì vậy sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, miễn án phí cho bị cáo là phù hợp.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

ơ

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, xử:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trương Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

Giao bị cáo Trương Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo Trương Thị L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong việc giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92, Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Giấy phép lái xe hạng A1 số 791127126387 mang tên Trương Thị L do Sở GTVT tỉnh Quảng Bình cấp ngày 18/02/2020.

3. Về án phí: Bị cáo Trương Thị L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2023); Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ