- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị D tội điều 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 27/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Quân;
Ông Phạm Văn Trung.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị D (tên gọi khác Cúc), sinh năm 1971 tại Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố AL, phường H , thị xã B , tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950; bị cáo có chồng Nguyễn Văn C, sinh năm 1971 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 1995; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Hà Thị N , sinh năm 1960; điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Cao Văn B , sinh năm 1957 (chồng bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Ông Cao Văn Đ , sinh năm 1985 (con của bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Ông Cao Văn Đ1 , sinh năm 1989 (con của bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Ông Cao Văn K , sinh năm 1991 (con của bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Ông Cao Văn L, sinh năm 2000 (con của bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Ông Cao Văn Th, sinh năm 1982 (con của bị hại); điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Đại diện theo ủy quyền của ông Đ, K, L, Th: Ông Cao Văn Đ1, sinh năm 1989; điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Văn B, sinh năm 1957; điạ chỉ: Ấp 9, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thị D có bằng lái xe hạng B1. Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 27/7/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 61A-145.88 lưu thông trên đường Cống Triết theo hướng từ xã Vĩnh Hòa đến xã Phước Sang, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường Cống Triết với đường ĐH 511 (ngã tư giao nhau có biển báo giao nhau, theo biển báo thì đường Cống Triết là đường không ưu tiên, đường ĐH 511 là đường ưu tiên) thuộc ấp 2, xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo. Bị cáo Duyên không chú ý quan sát để nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên xảy ra tai nạn với xe mô tô biển số 61F1-269.23 do bà Hà Thị N điều khiển đang lưu thông trên đường ĐH 511 theo hướng từ xã Tân Hiệp đến thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tai nạn xảy ra làm bà N bị thương được cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, hai phương tiện hư hỏng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ:
- 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-269.23 do ông Cao Văn B đứng tên quyền sở hữu;
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B1 số 741093001038 mang tên Lê Thị D .
- 01 (một) xe ô tô biển số 61A-145.88; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô biển số 61A-145.88;
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 29/2023/TgT ngày 20/3/2023 của Viện pháp y quốc gia - Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương do não gây di chứng sống đời thực vậy; sẹo kích thước nhỏ vùng đỉnh chẩm; sưng má trái, sây sát da tay, chân hiện không còn dấu vết; gãy các xương sườn II, III, IV,V, VI, VII, VIII, IX bên phải, trong đó các xương sườn II, III, IV,V gãy hai chỗ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hà Thị N là 99%.
Bản kết luận định giá tài sản số 60, ngày 24/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 61F1-269.23 là 2.220.000 đồng (hai triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 60/CT-VKSPG ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; xử phạt bị cáo Lê Thị D từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba sáu) tháng. Hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, B1 số 741093001038 mang tên Lê Thị D .
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 562.158.648đ (năm trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng). Bị cáo đã bồi thường 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), còn phải bồi thường 362.158.648đ (ba trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng).
Trong phần tranh luận, bị cáo Lê Thị D cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Trong lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thị D : Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện lo cho cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị D trình bày: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 27/7/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 61A-145.88 lưu thông trên đường Cống Triết theo hướng từ xã Vĩnh Hòa đến xã Phước Sang, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường Cống Triết với đường ĐH 511 thuộc ấp 2, xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo. Bị cáo không chú ý quan sát để nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên xảy ra tai nạn với xe mô tô biển số 61F1-269.23 do bà Hà Thị N điều khiển đang lưu thông trên đường ĐH 511 theo hướng từ xã Tân Hiệp đến thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tai nạn xảy ra làm bà N bị thương tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 99%.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm thương tích và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Bị cáo Lê Thị D được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, khi đến ngã tư giao nhau với đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên gây tai nạn làm cho bị hại Hà Thị N bị thương tích 99% đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, Cáo trạng số 60/CT-VKSPG ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thị D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Dù không mong muốn hậu quả xảy ra, nhưng hành vi của bị cáo chính là nguyên nhân dẫn đến bị hại bị thương tích sống đời sống thực vật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về sức khoẻ, tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án cách ly ra khỏi xã hôi một thời gian để bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại, tại phiên tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xét thấy, bị cáo Lê Thị D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có cha mẹ tham gia dân công hỏa tuyến hưởng chế độ. Ngoài ra, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ Luật Hình sự về án treo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.
Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, nhân thân của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại tại phiên tòa về mức bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm (27/7/2023). Cụ thể: Bị cáo Lê Thị D có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Hà Thị N số tiền 562.158.648đ (năm trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng), bị cáo đã bồi thường 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), còn phải bồi thường 362.158.648đ (ba trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng).
Các khoản chi phí phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại có quyền khởi kiện bị cáo bằng một vụ án dân sự khác.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe mô tô biển số 61F1-269.23 do ông Cao Văn B chồng bà N chủ sở hữu. Ngày 09/5/2023, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã trả lại tài sản trên cho ông Cao Văn B , ông B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- 01 (một) xe ô tô biển số 61A-145.88 do bị cáo Lê Thị D đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô; 01 giấy đăng ký xe ô tô biển số 61A-145.88. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã trả lại tài sản trên cho cho bị cáo nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, B1 số 741093001038 mang tên Lê Thị D , xét không cấm bị cáo hành nghề lái xe nên HĐXX trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (27/7/2023).
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại tại phiên tòa về mức bồi thường thiệt hại đến ngày xét xử sơ thẩm (27/7/2023). Cụ thể: Bị cáo Lê Thị D có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Hà Thị N số tiền 562.158.648đ (năm trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng), bị cáo đã bồi thường 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), còn phải bồi thường 362.158.648đ (ba trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng).
Các khoản chi phí phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện bị hại có quyền khởi kiện bị cáo bằng một vụ án dân sự khác.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Trả lại cho bị cáo Lê Thị D 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B1 số 741093001038 mang tên Lê Thị D .
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Lê Thị D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án 18.107.932 đ (mười tám triệu một trăm lẻ bảy nghìn chín trăm ba mươi hai đồng) phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND tỉnh Bình Dương; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1) - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND huyện Phú Giáo; (1) - Công an huyện Phú Giáo; (2) - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1) - UBND phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; (1) - Những người tham gia tố tụng; (4) - Lưu hồ sơ, VP. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |