- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Tiến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Chử Dung
2. Bà Lầu Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại phòng xét xử tầng 1, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn T sinh ngày 03 tháng 4 năm 2002 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Mòn, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H sinh năm 1975 và con bà Lò Thị Đ sinh năm 1977; Bị cáo Lò Văn T chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Bị cáo Lò Văn T bắt tạm giữ từ ngày 11 tháng 4 năm 2023 đến ngày 20 tháng 4 năm 2023, tạm giam từ ngày 20 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11 tháng 4 năm 2023 bị cáo Lò Văn T đi bộ từ lán công trình thuộc bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ đi tìm mua Heroine để sử dụng. Khi bị cáo Lò Văn T đến giữa bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Lò Văn T đã nhờ ông ta đi mua hộ Heroine với số tiền là 100.000 đồng và trả công ông ta đi mua là 20.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền rồi sau khoảng 10 phút thì cầm 01 (gói) nhỏ Heroine đưa cho bị cáo Lò Văn T. Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 11 tháng 4 năm 2023 khi về đến khu vực bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Hỳ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine thu giữ của Lò Văn T là 0,16 gam.
Bản kết luận giám định số: 642/KL-KTHS ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng khối lượng 0,06 gam gửi giám định của Lò Văn T là chất ma túy, loại Heroine.
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn Tiến là 0,16 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Tiến gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 34/CT-VKSNP ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Lò Văn T để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Về án phí, đề nghị áp dụng điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lò Văn T nhất trí không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11 tháng 4 năm 2023 bị cáo Lò Văn T đi bộ từ lán công trình thuộc bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ đi tìm mua Heroine để sử dụng. Khi bị cáo Lò Văn T đến giữa bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Bị cáo Lò Văn T đã nhờ ông ta đi mua hộ Heroine với số tiền là 100.000 đồng và trả công ông ta đi mua là 20.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền rồi sau khoảng 10 phút thì cầm 01 (gói) nhỏ Heroine đưa cho bị cáo Lò Văn T. Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 11 tháng 4 năm 2023 khi về đến khu vực bản Sín Chải, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Đồn biên phòng Nà Hỳ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án kết tội lần nào. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lò Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn và không có khả năng thi hành. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông mua hộ Heroine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 0,1 gam Heroine còn lại đã trừ lấy mẫu giám định. 01(một) phong bì niêm phong và vỏ nilon cũ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; án phí và lệ phí Tòa án: HĐXX xét thấy bị cáo Lò Văn T buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016; án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T: 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11 tháng 4 năm 2023.
3.Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy khối lượng: 0,1 gam Heroine ( còn lại đã trừ lấy mẫu giám định). 01(một) phong bì niêm phong và vỏ nilon cũ là vật chứng vụ án Lò Văn T. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu số tiền là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 6 năm 2023).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Nậm Pồ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT, NTG Công an huyện Nậm Pồ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Nậm Pồ; - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Nậm Pồ; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Nậm Pồ; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |