- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày 19 – 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Tịnh
Bà Hoàng Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 09 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phạm Hoài N, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Ấp 8, xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai; trú tại: Thôn A, xã B, huyện S, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Nha sĩ; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đ, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil - Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Ngô Thị H – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T1, xã H2, huyện S, tỉnh Đắk Nông.
Ông Hoàng Minh P – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn A1, huyện S, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 13/6/2023, Nguyễn Phạm Hoài N điều khiển xe mô tô biển số 48F1-045.64 (xe của bà Ngô Thị H cho anh Hoàng Minh P, (con rể) mượn) từ huyện S, tỉnh Đắk Nông đến khu vực TDP 6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông gặp đối tượng tên H3 (chưa xác được được nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 500.000 đồng về để sử dụng. Sau khi nhận ma túy, N cất giấu gói ma tuý vào trong cốp xe mô tô rồi điều khiển xe về lại huyện S. Khi đến khu vực thôn N, xã A1, huyện M, tỉnh Đắk Nông thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng thuộc Đồn biên phòng Cửa khẩu A1 - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Nông phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Tại kết luận giám định số 221/KL-KTHS ngày 14/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 01 gói nilon màu H1 được niêm phong trong bì thư gửi giám định là chất ma tuý, có khối lượng mẫu là 0,6102 gam, là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,5874 gam.
Cáo trạng số: 62/CT-VKS ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/06/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,5874 gam ma tuý là Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01sim số 0356911304; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại 8 Plus; chấp nhận việc Cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Mil trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade biển số 48F1-045.64 cho bà Ngô Thị H; trả lại 01 căn cước công dân số 075203002476 mang tên Nguyễn Phạm Hoài N cho bị cáo.
Bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Ngày 13/6/2023, bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N đi từ huyện S xuống khu vực gần trung tâm y tế huyện M thuộc tổ dân phố 6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông để mua 01 gói ma tuý loại Methamphetamine của một người đàn ông tên H3 với giá 500.000đ, mục đích mua về để sử dụng. Theo kết luận giám định của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Nông kết luận loại ma tuý mà bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, khối lượng 0,6102 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;
...”
Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi tang trữ chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản nên HĐXX không có căn cứ áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8 ] Về biện pháp tư pháp:
Đối với 0,5874 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với sim số 0356911304 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 8 plus là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade, biển số 48F1 - 045.64 mà bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma tuý, chiếc xe này của bà Ngô Thị H là chủ sử hữu hợp pháp cho anh Nguyễn Hữu P (con rể) mượn làm phương tiện đi lại. Bà H và Anh P không biết bị cáo mượn xe sử dụng vào việc đi mua ma tuý, do đó việc cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Mil trả lại chiếc xe trên cho bà Ngô Thị H là đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Đối với 01 căn cước công dân số 075203002476 mang tên Nguyễn Phạm Hoài N là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo, không liên quan gì đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Căn cước công dân mang tên Nguyễn Phạm Hoài N.
(Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Mil với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Mil).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 0,5874 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
+ Tịch thu tiêu huỷ sim số 0356911304.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 8 plus.
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade, biển số 48F1 - 045.64 cho bà Ngô Thị H.
+ Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số 075203002476 mang tên Nguyễn Phạm Hoài N.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Phạm Hoài N nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Đắk Mil; - Cơ quan THAHS-CA huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện Đắk Mil; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |