- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Tiến H - Trần Thu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của ông H đối với bà T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 21/4/2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Trung.
2. Ông Dương Thanh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 956/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông H – Sinh năm 1988 (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số X đường Y, Thôn M, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Bà T - sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông H trình bày có nội dung như sau:
Tôi (H) và bà T tìm hiểu và tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 05/4/2017.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó, tôi và bà T phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách, lối sống không hợp nhau, bà T không chung thủy trong đời sống hôn nhân.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà T.
Về con chung: Tôi và bà T có hai con chung là cháu A – Sinh ngày 29/7/2017 và cháu L – Sinh ngày 20/02/2019. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến tuổi trưởng thành. Hiện nay tôi đang kinh doanh quán cà phê, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 14.000.000 đồng và có nơi ở ổn định, nên đảm bảo cho việc nuôi dưỡng các con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và bà T không có tài sản chung và không có khoản nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn bà T, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bà T, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng bà T không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có ý kiến trình bày. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn kể từ khi thụ ký vụ án đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của ông H. Chấp nhận ông H được ly hôn với bà T. Về con chung: Ông H và bà T có hai con chung là cháu A – Sinh ngày 29/7/2017 và cháu L – Sinh ngày 20/02/2019. Chấp nhận giao hai con chung cho ông H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Ông H không yêu cầu bà T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Ông H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn ông H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn bà T, cư trú tại Thôn M, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà T đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 05/4/2017 (Giấy chứng nhận kết hôn số G, quyển số Q). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống, ông H và bà T xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông H trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách, lối sống không hợp nhau. Ông H có sự nghi ngờ về sự chung thủy bà T trong đời sống hôn nhân. Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà T.
Kết quả xác minh tại địa phương cho biết: Sau khi đăng ký kết hôn, ông H và bà T chung sống tại nhà ông H tại Thôn M, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình chung sống, giữa ông H và bà T phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không có sự tin tưởng nhau. Ông H yêu cầu Ban tự quản Thôn M, xã C, thành phố B tổ chức hòa giải nhưng bà T không có mặt nên hòa giải đoàn tự không thành. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì bà T về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay ông H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho ly hôn với bà T thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà T đến Tòa án để làm việc, hòa giải đoàn tụ, nhưng bà T không đến Tòa án làm việc, không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông H và bà T là không thể hàn gắn được, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông H xin ly hôn với bà T, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét về con chung: Ông H và bà T có hai con chung là cháu A – Sinh ngày 29/7/2017 và cháu L – Sinh ngày 20/02/2019. Ông H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà T không đến Tòa án để làm việc, không có ý kiến nguyện vọng gì về việc nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, ông H có nơi cư trú và thu nhập ổn định, đảm bảo cho việc nuôi dưỡng các con chung. Do đó vì quyền lợi cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định tâm sinh lý của trẻ, cần giao cháu A và cháu L cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H không yêu cầu bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng để nuôi con chung, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm theo
̀ quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của ông H đối với bà T.
Về quan hệ hôn nhân: Ông H được ly hôn với bà T.
Về con chung: Giao hai con chung cháu A – Sinh ngày 29/7/2017 và cháu L - Sinh ngày 20/02/2019 cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Bà T, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H không yêu cầu bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đinh sơ
̀ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thu ột, tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021817 ngày 01 tháng 11 năm 2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - P. NVKT&THA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lăk; - VKSND TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - UBND xã C, TP.BMT - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Dƣơng |