- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LE THI MY H - THAN THANH PH - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ H được ly hôn ông Thân Thanh Ph.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày 06/9/2023 “V/v Ly hôn; Nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kim Ngân
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
2. Ông Nguyễn Phước Lộc
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia và đình thụ lý số: 151/2023/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 về việc:“Ly hôn; Nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 2000, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
2- Bị đơn: Ông Thân Thanh Ph, sinh năm 1996 (Vắng mặt lần thứ hai)
Địa chỉ: Khu phố 7, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 5 năm 2023, các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ H trình bày:
Bà Lê Thị Mỹ H và ông Thân Thanh Ph là vợ chồng, đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường An Thới ngày 15/11/2019. Trong thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là Thân Ý V, sinh năm 2021.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cuối năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Ph không chịu làm ăn, không kiếm tiền để nuôi vợ con, không quan tâm chăm sóc vợ con, bỏ bê công việc nhà, thường xuyên ăn chơi, tụ tập bạn bè sử dụng ma túy. Bà H đã nhiều lần khuyên nhủ mà ông Phong không thay đổi được.
Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện nay cháu V đang sống với bà H tại Khu Phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, còn ông Ph thì sống tại nhà cha mẹ ruột tại Khu phố 7, phường An Thới, thành phố Phú Quốc.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân trầm trọng, hạnh phúc không đạt được. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
Về hôn nhân: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Thân Thanh Ph.
Về con chung: Vợ chồng có với nhau hai con chung là cháu Thân Ý V, sinh năm 2021. Bà H yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông Ph phải cấp dưỡng nuôi con cùng.
Về tài sản chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà H cam kết không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Thân Thanh Ph đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt. Mặc dù ông Ph có mặt tại chỗ ở hiện nay, nhưng vẫn cố tình lánh mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham dự phiên tòa đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay bà Hòa có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phong vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho bà H được ly hôn với ông Ph.
Về con chung: Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cháu V cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu, đề nghị miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Mỹ H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Thân Thanh Ph là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà H, ông Ph là phù hợp.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ H và ông Thân Thanh Ph xin đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc (nay là phường An Thới, thành phố Phú Quốc) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 15/11/2019, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông Ph là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án bà H xác định bà không thể tiếp tục chung sống với ông Ph, vì giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn với nhau được, tình trạng hôn nhân trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Ph.
Xét yêu cầu của bà H Hội đồng xét xử thấy rằng, việc bà H xác định khi sống chung với ông Ph giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương nơi bà H, ông Ph sinh sống thì được biết bà H, ông Ph thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông Ph không chịu làm ăn nuôi vợ con mà thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, sử dụng ma túy, bà H cho ông Ph nhiều cơ hội để sửa chữa, nhưng không thay đổi được, vợ chồng đã sống ly thân với nhau đã lâu. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Ph là phù hợp.
Về con chung: Bà H, ông Ph sống chung sinh được một người con là cháu Thân Ý V.
Quá trình giải quyết vụ án bà H yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu V cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần, thể chất, trí tuệ của con chưa thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.
Không ai có quyền ngăn cản việc thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.
Về nợ chung: Bà H xác định không có nợ chung, Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 28; 39; 147; 227; 228; 238; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 9; 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ H được ly hôn ông Thân Thanh Ph.
2. Về con chung: Giao cháu Thân Ý V, sinh ngày 10/7/2021 cho bà Lê Thị Mỹ H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi đủ trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.
Không ai được quyền ngăn cản quyền gặp gỡ thăm và chăm sóc con chung.Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.
4. Về nợ chung: Bà H xác định không có nợ chung, Hội đồng xét xử miễn xét.
5. Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng, theo biên lai thu số 0006484 ngày 08/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, bà H được nhận lại 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành ánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bà H, ông Ph vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú) để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Phú Quốc; - T.H.A DS thành phố Phú Quốc; - UBND phường An Thới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Ngân |