vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị KL đối với bị đơn anh Nguyễn Công T về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

Xử: Cho chị Trần Thị KL được ly hôn với anh Nguyễn Công T. Về con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 06/10/2019 cho chị KL được quyền nuôi dưỡng, anh Nguyễn Công T tạm thời không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim Loan - Lê Văn Tiền"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị KL đối với bị đơn anh Nguyễn Công T về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 57 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn và
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ

Ông Trần Văn Điệp

Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

NT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên

Ngày 29/5/2023 tại Toà án nhân dân huyện NT xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/04/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2023/QĐST – HNGĐ ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện NT giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị KL, sinh năm: 2000;

Địa chỉ: Số nhà 584, tổ 42, ấp 2, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm: 2001;

Địa chỉ: Số nhà 793, tổ 10, ấp 1, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai.

(Chị KL và anh T vắng mặt)

Nội dung vụ án

* Theo đơn khởi kiện ngày 07/02/2023 và tại hồ sơ vụ án chị Trần Thị KL trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Công T chung sống tự nguyện năm 2019 đến năm 2021 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 20 tháng 10 năm 2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nhiều lần bàn bạc đoàn tụ nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết xin ly hôn với anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 06/10/2019. Chị KL có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị KL khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ rất lâu mà không gàn gắn được nên nay chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử. Do bận công việc đề nghị Tòa án cho chị vắng mặt tại mọi buổi làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử của Tòa án.

* Bị đơn anh Nguyễn Công T đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt nên không có lời khai tại hồ sơ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp đúng quy định pháp luật, tuy nhiên đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử nên cần khắc phục.

Anh T đã được Tòa án niêm yết triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị KL, xử cho chị KL được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Gia H, sinh ngày 06/10/2019 cho chị KL nuôi dưỡng, tạm thời anh T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị KL khai không có nên không xem xét.

Về án phí: Chị KL phải chịu án phí dân sự trong vụ án Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị KL có yêu cầu xét xử vắng mặt, riêng anh Nguyễn Công T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Chị Trần Thị KL xin ly hôn với anh Nguyễn Công T. Theo biên bản xác minh ngày 17/3/2023 anh T có nơi cư trú là ấp 1, xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện NT có thẩm quyền giải quyết vụ án. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Trần Thị KL và bị đơn là anh Nguyễn Công T.

. Về nội dung:

- Xét quan hệ hôn nhân giữa chị KL và anh T là hôn nhân tự nguyện, chung sống năm 2019 và có đăng ký kết hôn năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015. Chị KL xác định sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cãi vã nhau. Nhiều lần vợ chồng và gia đình hai bên ngồi lại bàn bạc nhưng không thành. Hiện vợ chồng anh chị đã ly thân và không còn chăm sóc quan tâm lẫn nhau. Mặt khác Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T và chị KL đến đề hòa giải đoàn tụ nhưng anh T đều vắng mặt không lý do điều đó cho thấy anh T không có thiện chí muốn hòa giải đoàn tụ với chị KL. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của chị KL là có căn cứ chấp nhận nên cần xét xử cho chị KL được ly hôn anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về con chung: Căn cứ vào tài liệu Tòa án thu thập được có tại hồ sơ và lời khai của đương sự xác định chị KL và anh T có 01 con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 06/10/2019. Chị KL xác định đây là con của anh T, do thời điểm sinh con vào dịch bệnh covid nên vợ chồng anh chị chưa đi đăng ký kết hôn được do đó khi đi đăng ký khai sinh chỉ có tên mẹ. Tại biên bản xác minh ngày 17/3/2023 địa phương xác định anh chị có 01 con chung tên Trần Gia H. Tại hồ sơ vụ án chị KL có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét chị KL là người thường xuyên chăm sóc con chung nên xét giao con chung cho chị KL tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị KL không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh T được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị KL khai không có nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị KL khai không có, qua xác minh tại địa phương thì không có ai yêu cầu chị KL và anh T phải thanh toán nợ chung nên Tòa án không xét.

. Về án phí: Chị KL phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị KL đối với bị đơn anh Nguyễn Công T về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

Xử: Cho chị Trần Thị KL được ly hôn với anh Nguyễn Công T.

Về con chung: Giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 06/10/2019 cho chị KL được quyền nuôi dưỡng, anh Nguyễn Công T tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.

Anh T được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự khai tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.

2. Về án phí: Chị Trần Thị KL phải chịu 300.000đ tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị KL đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009824 ngày 08/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện NT. (Chị KL đã nộp xong).

3. Chị KL và anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ