vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Trương Thị Chiên- Bị đơn anh Đặng Văn Chuyển"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:57/2023/HNGĐ-ST
Ngày 01-6-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Trương Xuân Vũ;

2- Bà Hà Thị Thoan.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ch 31 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã Tr- huyện L- tỉnh Y, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Văn Ch1 36 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã Tr- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 10-3-2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Trương Thị Ch trình bày: Chị và anh Đặng Văn Ch1 về sống chung như vợ chồng từ năm 2011 đến tháng 5 năm 2016 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Tr- huyện L- tỉnh Y. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Ch1 hay rượu chè, cờ bạc, đi làm nhưng không thấy có tiền, thậm chí về còn bán cả đồi cây. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, nhiều lần anh Ch1 còn đánh chị. Hiện tại chị về nhà mẹ đẻ sinh sống và đi làm ăn. Trong thời gian hai năm vợ chồng sống ly thân có lần chị đã quay về nhưng anh Ch1 lại đánh, đuổi chị đi. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Vợ chồng có hai con chung là Đặng Thị Ph sinh ngày 02-3-2012 và Đặng Thị Kim D sinh ngày 13-5-2014; khi ly hôn việc ở với ai là theo nguyện vọng của các con. Nếu các con ở với mẹ, chị yêu cầu anh Ch1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng/1 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đặng Văn Ch1 vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ; bị đơn đã được triệu tập nhưng không có mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 357 Bộ luật Dân sự; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5, khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị Ch được ly hôn với anh Ch1; giao con chung cho chị Ch trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Ch1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; chị Ch phải chịu án phí ly hôn; anh Ch1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa chị Trương Thị Ch và anh Đặng Văn Ch1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các đương sự có địa chỉ thường trú tại xã Tr- huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mặc dù đã được triệu tập, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đặng Văn Ch1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do; chị Trương Thị Ch có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt cả bị đơn và nguyên đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trương Thị Ch và anh Đặng Văn Ch1 kết hôn năm 2016, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong những năm qua vợ chồng chị Ch- anh Ch1 không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau... Hai người cũng đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết vụ án Toà án đã ra văn bản thông báo và triệu tập nhiều lần nhằm hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh Đặng Văn Ch1 từ chối có mặt tham gia các phiên hoà giải đã thể hiện không còn thiện chí tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nữa; chị Trương Thị Ch khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị Ch và anh Ch1 đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ch có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung:

Chị Trương Thị Ch và anh Đặng Văn Ch1 có hai cháu là Đặng Thị Ph sinh ngày 02-3-2012 và Đặng Thị Kim D sinh ngày 13-5-2014. Qúa trình giải quyết vụ án quan điểm của chị Ch là việc ở với ai sẽ theo nguyện vọng của các con. Nếu các con ở với mẹ, chị yêu cầu anh Ch1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng/1 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét hoàn cảnh thực tế cả cháu Ph và cháu D đều là con gái đang độ tuổi phát triển về tâm, sinh lý nên rất cần sự gần gũi, chăm sóc của người mẹ. Trong biên bản lấy lời khai cả hai cháu đều có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Ch1 không có mặt để thể hiện quan điểm về vấn đề nuôi con, do đó cần giao các con cho chị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, như vậy yêu cầu của chị Ch về vấn đề này là chính đáng. Theo lời khai của chị Ch và kết quả xác minh tại địa phương thì hiện tại anh Ch1 đang đi làm thuê và có thu nhập. Mức cấp dưỡng 500.000 đồng/tháng/1 cháu theo yêu cầu của chị Ch là phù hợp nên cần được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung; nợ chung:

Chị Ch không yêu cầu nên vấn đề giải quyết không đặt ra.

[5] Về án phí:

Chị Ch phải chịu án phí ly hôn; anh Ch1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trương Thị Ch được ly hôn với anh Đặng Văn Ch1.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 357 Bộ luật Dân sự; giao cả hai cháu là Đặng Thị Ph sinh ngày 02-3-2012 và Đặng Thị Kim D sinh ngày 13-5-2014 cho chị Trương Thị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đặng Văn Ch1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 500.000 đồng/một cháu kể từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chị Trương Thị Ch phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, xác nhận chị Ch đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2021/0003475 ngày 13-3-2023.

- Anh Đặng Văn Ch1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

.4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

5- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ