vanban.org

Bản án 57/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D K
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23/8/2023
V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN D K - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ An

Ông Nguyễn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

D K, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia

phiên toà: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện D K,

tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

233/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Lê Anh Th - sinh năm 1991

Địa chỉ: Tổ dân phố P L T 3, thị trấn D K, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Sỹ Ng - sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ dân phố P L T 3, thị trấn D K, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D K.

Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2023, các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Lê Anh Th trình bày:

Bà và ông Nguyễn Sỹ Ng tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D K, huyện D K vào năm 2018. Trong quá trình

chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông

Ng không quan tâm đến gia đình, ông Ng còn đam mê cá độ banh bóng dễn đến đổ

nợ, bà phải nai lưng kiếm tiền trả nợ cho ông Ng nhưng ông Ng vẫn chứng nào tật

nấy, không thay đổi. Nhiều lần bà và ông Ng đã hàn gắn nhưng không có kết quả. Sau đó, ông Ng tự bỏ về nhà cha mẻ đẻ mình sống từ năm 2021. Sau này bà được biết ông Ng bị liên quan đến hình sự cũng vì banh bóng nên đã bỏ địa phương đi và hiện nay đang bị giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D K. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Ng, không thể nào kéo dài tình trạng hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng.

Về con chung: Bà và ông Nguyên có 1 con chung là Nguyễn Võ Quỳnh Nh,

sinh ngày 18/11/2018. Con chung đang sống với bà, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Tại bản tự khai ngày 10/8/2023, bị đơn ông Nguyễn Sỹ Ng trình bày:

Ông và bà Võ Lê Anh Th tự nguyện chung sống với nhau và có kết hôn tại

Ủy ban nhân dân thị trấn D K vào năm 2018. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông đam mê banh bóng dẫn đến đổ nợ nên ông đã bỏ địa phương đi vì dính vào hình sự, sau đó ông bị bắt truy nã và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D K. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà Thảo nên đồng ý ly hôn với bà Th.

Về con chung: Ông đồng ý giao con chung Nguyễn Võ Quỳnh Nh, sinh

ngày 18/11/2018 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con vì bản thân đang bị tạm giam không có khả năng cấp dưỡng.

Ông xác định ông và bà Th không có tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị đơn vắng mặt - có đơn xét xử vắng mặt.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm

phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82,

83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Lê Anh T về việc ly hôn với ông Nguyễn Sỹ Ng. Giao con chung là Nguyễn Võ Quỳnh Nh, sinh ngày 18/11/2018 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, do bà Th không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con nên ông Ng không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Th và ông Ng đều xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Bà Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vắng mặt - có đơn đề nghị Tòa án xét xử

vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Lê Anh Th và ông Nguyễn Sỹ Ng tự

nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D K và được cấp giấy chứng

nhận kết hôn số 147 vào ngày 31/10/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà Th và ông Ng đều xác định trong thời gian chung sống giữa vợ chồng

thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bản thân ông

Nguyên đam mê banh bóng dẫn đến đổ nợ rồi bỏ đi từ đó dẫn đến hôn nhân không

còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được, đôi bên không còn tình cảm với nhau

nên ông Ng đồng ý ly hôn với bà Th. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn

nhân giữa bà Th và ông Ng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật

Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

. Về con chung: Bà Th và ông Ng có 01 con chung là Nguyễn Võ Quỳnh

Nh, sinh ngày 18/11/2018. Theo yêu cầu của bà Th và ý kiến của ông Ng, cần giao

con chung cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà Th tự nguyện không

yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th và ông Ng đều xác định không có

tài sản chung, không có nợ chung nên không xét.

. Về án phí: Bà Võ Lê Anh Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn

nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà

Võ Lê Anh Th được ly hôn với ông Nguyễn Sỹ Ng.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Võ Quỳnh Nh, sinh ngày

18/11/2018 cho bà Võ Lê Anh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc bà Th tự nguyện không yêu

cầu ông Nguyễn Sỹ Ng cấp dưỡng nuôi con. Ông Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom

con chung, không ai được cản trở.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà Võ Lê Anh Th, ông Nguyễn Sỹ Ng có

quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi

con sau ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Võ Lê Anh Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Th đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000196 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D K - tỉnh Khánh Hòa. Bà Th đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ