- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Trần Thị T và Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T: Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị T số tiền vay còn nợ 250.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2023/DS-ST Ngày: 08-9-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Hoa
2. Bà Đoàn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ L – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện A: Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2023/TLST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp B, xã Th, huyện A, tỉnh K.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp B, xã Th, huyện A, tỉnh K.
(Chị T có mặt; anh L vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Vào ngày 09/01/2022 âm lịch, anh Nguyễn Văn L có hỏi vay chị số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, đến tháng 3/2022 âm lịch anh L có hỏi vay thêm 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, anh L tự thỏa thuận lãi suất tính bằng tiền ngày vì anh hứa vài ngày sẽ trả lại tiền gốc (lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/ngày trên 1.000.000 đồng). Việc thỏa thuận này chị với anh L không làm giấy tờ và khi vay do tin tưởng cũng không làm biên nhận gì.
Sau khi mượn số tiền 150.000.000 đồng thì anh L đóng lãi cho chị tổng cộng được khoảng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng thì ngưng lại không trả nữa. Đáng lẽ chị không cho mượn thêm số tiền 100.000.000 đồng nhưng do tin tưởng anh L hứa bán đất sẽ trả hết số tiền cho chị nhưng từ đó đến nay anh L không trả tiền cũng không đóng lãi cho chị.
Chị được biết anh L đã bán đất 02 lần nhưng không trả nợ cho chị. Sau đó chị có làm đơn đưa ra chính quyền ấp hòa giải, anh L thừa nhận có thiếu chị số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng nhưng anh L trả dần mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng chị không đồng ý vì thời gian quá lâu.
Nay chị yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải trả cho chị số tiền gốc còn thiếu là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng, không yêu cầu trả lãi.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
- Chị Trần Thị T xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu anh Nguyễn Văn L trả cho chị số tiền vay còn nợ 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng, chị xác định không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn L: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.
- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn anh Nguyễn Văn L trả cho nguyên đơn chị Trần Thị T số tiền còn nợ là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng. Về lãi suất do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn anh Nguyễn Văn L địa chỉ Ấp B, xã Th, huyện A, tỉnh K trả số tiền vay còn nợ. Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn L trong vụ án này.
Về nội dung:
Theo nguyên đơn chị Trần Thị T xác định vào ngày 09/01/2022 âm lịch chị cho anh L vay số tiền 150.000.000 đồng thì anh L tự thỏa thuận lãi suất tính bằng tiền ngày vì anh L hứa vài ngày sẽ trả lại tiền gốc (lãi suất thỏa thuận là 10.000 đồng/ngày trên 1.000.000 đồng). Việc thỏa thuận này chị với anh L không làm giấy tờ và khi vay do tin tưởng cũng không làm biên nhận. Sau khi mượn số tiền 150.000.000 đồng thì anh L đóng lãi cho chị tổng cộng được khoảng 20.000.000 đồng thì ngưng lại không trả nữa. Đáng lẽ chị không cho mượn thêm số tiền 100.000.000 đồng nhưng do tin tưởng anh L hứa bán đất sẽ trả hết số tiền cho chị nên vào tháng 3 năm 2022 âm lịch chị cho anh L mượn thêm số tiền 100.000.000 đồng nhưng từ đó đến nay anh L không trả tiền cũng không đóng lãi cho chị. Do quyền lợi bị xâm hại nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn L phải trả cho chị số tiền gốc còn thiếu là 250.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Hội đồng xét xử xét thấy giao dịch vay tiền của nguyên đơn chị Trần Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn L là một hợp đồng dân sự về vay tài sản không kỳ hạn, được giao kết trên cơ sở tự nguyện của các bên. Mặc dù khi cho anh L vay tiền không có làm biên nhận nhưng tại biên hòa giải ở cơ sở ngày 14 tháng 10 năm 2022 và theo biên bản ghi lời khai bà Trần Thị Kim T1 – Trưởng ấp và ông Nguyễn Văn K – Phó Ấp B, xã Th, huyện A ngày 10 tháng 7 năm 2023 đều xác định tại ngày hòa giải ngày 14 tháng 10 năm 2022 anh L thừa nhận còn nợ chị T số tiền 250.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng, chị T không đồng ý yêu cầu chuyển đơn đến Tòa án. Phía anh L không đến Tòa tham gia tố tụng là tự mình từ bỏ quyền lợi của mình được trình bày ý kiến, đề nghị, yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng trong suốt quá trình tố tụng; Tòa án đã Thông báo cho anh L về việc cung cấp chứng cứ và thực hiện quyền yêu cầu phản tố trong vụ án nhưng anh L cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Đây thuộc trường hợp đương sự thừa nhận hoặc không phản đối theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chị T không phải chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 463, 466 và 469 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về lãi suất: Do nguyên đơn bà T không có yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với số tiền lãi của khoản tiền vay 150.000.000 đồng, nguyên đơn xác định bị đơn đã đóng được số tiền 20.000.000 đồng. Bị đơn không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T, căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, nên anh Nguyễn Văn L chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 250.000.000 đồng x 5% = 12.500.000 đồng. Hoàn trả cho chị Trần Thị T số tiền 6.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001080 ngày 01 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K.
Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T: Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho chị Trần Thị T số tiền vay còn nợ 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng.
Ghi nhận chị T không yêu cầu tính lãi từ thời điểm anh L vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu 12.500.000 (mười hai triệu năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho chị Trần Thị T số tiền 6.250.000 (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001080 ngày 01 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh K; - VKSND huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN KIM NGỌC GIÀU |