- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HSST Ngày 28-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Giáp Văn Cương
Bà Phan Thị Oanh
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng
tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh
Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2022/HSST ngày
24 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
85/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H sinh ngày: 26 tháng 9 năm 1984 tại thị trấn Q, huyện Q,
tỉnh Cao Bằng.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; nghề
nghiệp: Không nghề; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958 và bà
Trần Thị H, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt
tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2022, hiện đang giam tại Nhà tạm giữ Công an
huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Trần K; sinh năm 1988; trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn Q, huyện
Q, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
2/ Chu Quốc Kh; sinh năm 1981; trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện
Q, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
3/ Chu Minh T; sinh năm 1995; trú tại: Xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao
Bằng; vắng mặt.
4/ Nhan Trung T1; sinh năm 1994; trú tại: Xóm L, thị trấn Q, huyện Q,
tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 19/7/2022 tổ công tác của Công an huyện Quảng
Hòa, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Công an thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm Lũng Luông, thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Chu Minh T, sinh năm 1995, trú tại: Xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng đang ngồi ở cạnh đường tay phải cầm 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, trên mặt đất gần vị trí Tuấn ngồi có 01 mảnh giấy. Chu Minh T khai nhận bản thân vừa sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức chích xong thì bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa người về trụ sở để làm rõ hành vi vi phạm.
Tại cơ quan điều tra Chu Minh T khai số ma túy vừa sử dụng mua với
Nguyễn Văn H, trú tại thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Căn cứ lời khai của T, cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn H phát hiện, thu giữ: 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có 02 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, 01 gói được gói bằng giấy có chữ viết, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Ngày 20/7/2022, Cơ quan điều đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định
khối lượng vật chứng là 0,086g (Không phẩy không trăm tám mươi sáu gam).
Tại bản kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày
19/7/2022 H một mình điều khiển xe đạp từ nhà đến đoạn đường rẽ đi thác Nà Tẩư thuộc địa phận xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) đang ngồi cạnh đường có biểu hiện giống người nghiện nên H chủ động hỏi “Anh có hàng không” người đàn ông trả lời “có, lấy bao nhiêu”, H đáp “lấy bốn trăm” rồi đưa số tiền 400.000đ, người đàn ông nhận tiền và đưa cho Huân 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, H nhận lấy rồi điều khiển xe về nhà lấy gói ma túy ra để chia ra được 6 gói nhỏ sau đó Huân đã sử dụng 1 gói, bán cho Nhan Trung T1, trú tại xóm L, thị trấn Q 01 gói với giá 200.000đ, bán cho Chu Minh T, trú tại xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng 01 gói với giá 100.000đ.
Trước đó, Nguyễn Văn H mua ma túy với một người đàn ông không biết
tên, tuổi tại xã Đoài Dương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Vào ngày
15/7/2022 H đã bán cho Nguyễn Trần K, trú tại Tổ dân phố P, thị trấn Q, huyện
Q 01 gói với giá 200.000đ; bán cho Chu Quốc Kh, trú tại tổ dân phố H, thị trấn
Q, huyện Q 01 gói với giá 100.000đ.
Hình thức giao dịch là gặp mua trực tiếp hoặc gọi điện thoại hẹn đến khu
vực Cầu Đỏ thuộc Tổ dân phố P, thị trấn Q đề mua bán.
Những người làm chứng là Nhan Trung T1, Nguyễn Trần K và Chu Quốc
Kh đều thừa nhận bản thân nghiện ma túy, và đã trực tiếp mua ma túy với
Nguyễn Văn H.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKSQH ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Nguyễn
Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận nội dung bản cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng
hành vi phạm tội của bị cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng
Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” và trình bày quan điểm, hướng giải quyết vụ
án như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi
phạm pháp luật, xong vì lợi nhuận từ việc mua bán ma túy và để có tiền phục vụ
nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm
tội, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần xử lý nghiêm khắc. Tuy
nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên
đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật hình sự xử phạt bị cáo từ 7 đến 8 năm tù.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và
các vật chứng không còn giá trị sử dụng; tịch thu phát mại điện thoại di động vì
liên quan đến hành vi phạm tội và truy thu số tiền 600.000đ .
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt và
quan điểm xử lý, do đó không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị
cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về hòa nhập với xã
hội và sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp với
các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản khám xét lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 19/7/2022 và vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo
tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 19/7/2022 tại nhà riêng của Nguyễn Văn H thuộc tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Q Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa phát hiện Nguyễn Văn H đang tàng trữ 03 (Ba) gói Heroine có tổng khối lượng 0,086g (Không phẩy không trăm tám mươi sáu gam). Đây là ma túy do H mua với một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở khu vực đường rẽ đi thác Nà Tẩư thuộc địa phận xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) đem về chia nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Trong ngày 19/7/2022 Nguyễn Văn H đã bán cho Nhan Trung T1 , trú tại xóm L, thị trấn Q 01 gói với giá 200.000đ, bán cho Chu Minh T, trú tại xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng 01 gói với giá 100.000đ.
Trước đó, Nguyễn Văn H mua ma túy với một người đàn ông không biết
tên, tuổi tại xã Đoài Dương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Vào ngày 15/7/2022 Huân đã bán cho Nguyễn Trần K, trú tại Tổ dân phố P, thị trấn Q, huyện Q 01 gói với giá 200.000đ; bán cho Chu Quốc Kh, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Q, huyện Q 01 gói với giá 100.000đ.
Những lần mua bán ma túy trên hình thức giao dịch đều là gặp mua trực
tiếp hoặc gọi điện thoại hẹn đến khu vực Cầu Đỏ thuộc Tổ dân phố P, thị trấn Q để mua bán.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được việc
làm của mình bị pháp luật ngăn cấm, nhưng do lười lao động, muốn kiếm tiền nhanh chóng từ lợi nhuận của việc buôn bán và gieo rắc cái chết trắng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ
luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tặng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã đi ngược lại chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, góp
phần làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh
hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương
cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm ma túy ở địa phương.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành
khẩn khai báo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình, nên khi quyết
định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
. Hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo,
Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội
một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa
chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có
thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng
hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Việc xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng
Hình sự, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy vì là vật cấm tàng
trữ, lưu hành và các vật chứng không còn giá trị sử dụng; tịch thu sung vào ngân
sách nhà nước điện thoại di động của Nguyễn Văn H vì là công cụ, phương tiện
phạm tội.
Bị cáo đã bán Heroine và thu lợi bất chính 600.000đ (Sáu trăm nghìn
đồng) nên cần truy thu số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
. Các nhận định khác:
Những người bán ma túy cho Nguyễn Văn H, quá trình điều tra không xác
định được danh tính, nhân thân và địa chỉ của người này, nên xét thấy không đủ
căn cứ để kiến nghị mở rộng vụ án.
Đối với những người mua ma túy với Nguyễn Văn H cơ quan điều tra đã
đã thông báo đến chính quyền địa phương nơi cư trú để lập hồ sơ quản lý, đồng
thời ngày 05/9/2022 Công an huyện Quảng Hòa đã ra quyết định xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Chu Minh T
là phù hợp.
. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình
sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh
Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, nên cần được chấp nhận.
Xét đề nghị xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của bị cáo là thể hiện
sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cần được xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều
38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
Xử phạt Nguyễn Văn H 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù
tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 19/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Vỏ
niêm phong ban đầu các mảnh giấy bạc màu vàng, giấy có chữ viết của Nguyễn Văn H”. Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Văn H và các thành phần tham gia; 01 (Một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Bơm kim tiêm thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Văn H”. Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Văn H và các thành phần tham gia; 01 (Một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi: “số 203/KL-KTHS Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Văn H có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/7/2022”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia; 01 (Một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Bơm kim tiêm và mảnh giấy của Chu Minh T”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia.
+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di
động, loại bàn phím bấm, nhãn nhiệu NOKIA, màu xám, máy đã qua sử dụng, số xê-ri: 352404058260819, gắn sim số 0356197710 được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi: “Điện thoại di động của Nguyễn Văn H, niêm phong ngày 16/9/2022”. Mặt sau có chữ ký của Nguyễn Văn H và các thành phần tham gia.
Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 10 năm 2022.
Truy thu số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy mà
có để nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ
(hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - Phòng hồ sơ – CA tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Công an huyện; - Cơ quan THA hình sự; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện; - Các bị cáo; - Lưu: Án văn, THA hình sự và HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hiền |