vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc Tùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Phạm Ngọc Tùng S 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/12/2021. Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Methamphetamine đựng trong phong bì niêm phong số 159/KLGĐ và 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 ống hút nhựa màu trắng nối với 01 ống thủy tinh. Trả lại cho bị cáo 01 điệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Tùng S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc Tùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
Toµ ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ C
tØnh qu¶ng ninh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

─────────
Bản án số: 57/2022/HS – ST
Ngày 19 – 5 – 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thị Hiền.

2- Bà Bùi Thị Kim Loan.

- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Xuân Chiêm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Xuân Vọng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc Tùng S (tên gọi khác: không). Giới tính: nam. Sinh ngày 02/3/1990, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 3, khu 13, phường Mông Dương, TP C, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: công nhân. Trình độ học vấn: lớp 12/12. Con ông: Phạm Đức Khoa và bà Cao Thị Báu. Có vợ: Hoàng Thị Thức (đã ly hôn), chưa có con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/12/2021, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

- Anh Đặng Ngọc D, sinh năm 1957. Nơi cư trú: tổ 5, khu Nam Sơn 1, phường Cẩm Sơn, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1967. Nơi cư trú: tổ 1, khu Trung Sơn 2, phường Cẩm Sơn, tp. C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Ngọc Tùng S nghiện ma túy từ năm 2016. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/12/2021, S đi đến nhà của một người bạn xã hội tên là Tú ở tổ 5, khu Cao Sơn 1, phường Cẩm Sơn, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh chơi. S và Tú ngồi nói chuyện một lúc thì cả hai có nhu cầu sử dụng ma túy đá. S đưa cho Tú 500.000 đồng để Tú đi mua ma túy về cùng sử dụng. Tú cầm tiền đi mua ma túy, đến 21 giờ 15 phút cùng ngày Tú quay về nhà và đưa cho S 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có một túi nilon chứa ma túy đá. Lúc đó S có việc phải đi về thì Tú đưa vào túi áo bên trái của S 01vỏ bao thuốc lá Vinataba (trong có 01 ống thủy tinh gắn ống hút nhựa), là dụng cụ để S về sử dụng ma túy đá. Sau đó S đi bộ về đến đầu ngõ thuộc tổ 5, khu Cao Sơn 1, phường Cẩm S, thành phố C, Quảng Ninh thì bị Công an phường Cẩm Sơn phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra thành phố C về ma túy bắt quả tang và thu giữ vật chứng: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có 01 túi nilon kích thước (2x2) cm chứa chất tinh thể màu trắng. 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01ống hút nhựa màu trắng nối với 01 ống thủy tinh. 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu tím lắp sim số 0868020390.

Tại Bản kết luận giám định số 159/KLGĐ ngày 05/1/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của S là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,241gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định 0,19 gam Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra Phạm Ngọc Tùng S khai nhận mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng. Chiếc điện thoại di động OPPO vỏ màu tím lắp sim số 0868020390 bị thu giữ S sử dụng để liên lạc với Tú ngày 29/12/2021.

Người chứng kiến là anh Đặng Ngọc D và anh Nguyễn Văn K có lời khai phù hợp với nội dung vụ án, chứng kiến Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên và niêm phong số ma túy của S theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 53/CT-VKSCP ngày 09/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Phạm Ngọc Tùng S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Tùng S từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/12/2021. Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 159/KLGĐ và 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 ống hút nhựa màu trắng nối với 01 ống thủy tinh. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO vỏ màu tím kèm 01 sim.

Bị cáo không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C và bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng: bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai, là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 21 giờ 45 phút ngày 29/12/2021 của Công an phường Cẩm Sơn, thành phố C, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định số 159/KLGĐ ngày 05/1/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Đặng Ngọc D và anh Nguyễn Văn K, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 21 giờ 35 phút ngày 29/12/2021, tại tổ 5, khu Cao S 1, phường Cẩm Sơn, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Ngọc Tùng S có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…

a) ….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó phải xử phạt bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên cũng xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, lần đầu phạm tội, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 159/KLGĐ và 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 ống hút nhựa màu trắng nối với 01 ống thủy tinh ( là vật cấm tàng trữ và lưu hành, vật không có giá trị sử dụng). Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO vỏ màu tím kèm 01 sim bị cáo dùng để liên lạc trong sinh hoạt hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo - theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông tên Tú mà Phạm Ngọc Tùng S khai là người đưa ma túy cho S, qua xác minh tại Công an phường Cẩm S, TP C xác định là Nguyễn Văn Tú – sinh năm 1982, trú tại: tổ 5, khu Cao Sơn 1, phường Cẩm Sơn, TP C, tỉnh Quảng Ninh. Hiện Tú vắng mặt tại địa phương nên không thể triệu tập đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Hội đồng xét xử không đề cập.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a,c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 - Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc Tùng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Phạm Ngọc Tùng S 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/12/2021.

Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Methamphetamine đựng trong phong bì niêm phong số 159/KLGĐ và 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 01 ống hút nhựa màu trắng nối với 01 ống thủy tinh. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO vỏ màu tím kèm 01 sim (Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 103/BB-THA ngày 06/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C).

Bị cáo Phạm Ngọc Tùng S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ