vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 05/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Xử phạt bị cáo Triệu Thị Khánh V1 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma t y , thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2021.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về v t chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Thị Khánh Vân phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Triệu Thị Khánh V1 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma t y , thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BGI
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày 05/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BGI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư.

2. Bà Hoàng Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2022/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Thị Khánh V1 , sinh năm 1977; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 9, phường TrNgH , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Số nhà 49, đê ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi ; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Triệu Ngọc H, sinh năm 1954 (đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị M, sinh năm 1955; Anh, chị em ruột: gia đình có ba chị em, Bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Trần C , sinh năm 1978 (đã chết); Có hai con: con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

- Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo Triệu Thị Khánh V1 có mặt tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn L1 , sinh năm 1976, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 262, thôn Ng , xã DTr , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Ngô Xuân H1 , sinh năm 1995, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn PhL , xã PhH , huyện TY , tỉnh Bắc Giang.

3. Ông Hà Văn T1 , sinh năm 1960, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Kh , thị trấn TA , huyện YD , tỉnh Bắc Giang.

4. Anh Nguyễn Văn S1 , sinh năm 1986, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 49, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

5. Chị Triệu Thị H1 , sinh năm 1984, (Có đơn xin xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 120, đường bờ đê ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

6. Anh Trần Văn M1 , sinh năm 1989, (Có đơn xin xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 120, đường bờ đê ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

7. Bà Nguyễn Thị M2 , sinh năm 1978, (Có đơn xin xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 168, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

8. Bà Ngô Thị B1 , sinh năm 1961, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 51, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

9. Chị Nguyễn Thị Kim Th1 , sinh năm 1987, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 51, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BGi , có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Thị Khánh V1 , sinh năm 1977, chung sống như vợ chồng với Nguyễn Văn S1 , sinh năm 1986 tại địa chỉ số nhà 49, đường đê ChL 1, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi . Vào khoảng 22 giờ ngày 23/11/2021, V1 đi từ nhà ra khu vực bờ đê ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi mục đ ch để mua ma tuý chia nhỏ bán kiếm lời. Tại đây, V1 gặp một nam thanh niên không quen biết đeo khẩu trang, qua trao đổi V1 hỏi mua được của người đó 1.000.000 đồng tiền ma t y Heroine. Nam thanh niên đồng ý và lấy trong người hai gói ma tuý ra đưa cho V1, V1 đưa 1.000.000 đồng trả cho nam thanh niên rồi cầm hai gói ma tuý về nhà. Về đến nhà thì Nguyễn Văn S1 đang ngủ, V1 lấy dao tem và qu n giấy bạc ở trên nóc tủ bếp ra chia số ma tuý ra làm nhiều gói giấy bạc nhỏ để bán kiếm lời và quy ước giá là 100.000 đồng/ 1 gói (V1 không nhớ chia được bao nhiêu gói . Sau đó, V1 cho số ma tuý vừa chia vào trong 02 t i nilon màu trắng đều có một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ rồi lấy mảnh nilon màu đen bọc 02 t i nilon lại, cất vào trong t i áo khoác rồi đi ngủ. Đến khoảng 6 giờ sáng ngày 24/11/2021, Nguyễn Văn S1 một mình đi ra ngoài t p thể dục còn V1 tiếp tục ngủ trong nhà đến khoảng 7 giờ kém thì d y và ngồi ở phản gỗ tại phòng khách gần ô cửa sổ trong nhà.

Đến 7 giờ ngày 24/11/2021, Phạm Văn L1 , sinh năm 1976, tr tại: số nhà 262, thôn Ng , xã DTr , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang một mình đi bộ đến nhà Triệu Thị Khánh V1 để mua ma túy sử dụng. Cùng l c đó có Ngô Xuân H2, sinh năm 1995, tr tại thôn PhL , xã PhH , huyện TY , tỉnh Bắc Giang đi xe ôm của ông Hà Văn T1 , sinh năm 1960, tr tại tổ dân phố Kh , thị trấn TA , huyện YD , tỉnh Bắc Giang c ng đến nhà V1 để mua ma túy sử dụng. L1 đi đến bức tường cay nhà V1 rồi gọi qua ô cửa sổ bảo để cho một cái ý là hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy Heroine. V1 đang ngồi tại phản gỗ trong nhà nghe thấy và đi ra chỗ ô của sổ. L1 nâng nắp sắt của ô cửa sổ đưa vào cho V1 tờ tiền 200.000 đồng, V1 cầm tiền rồi trả lại cho L1 100.000 đồng và lấy trong túi áo 01 gói giấy bạc đựng ma t y đã chia từ tối hôm trước đưa cho L1. Lúc này H2 đang ở phía sau L1, thấy L1 vừa mua xong ma túy nên H2 tiếp tục đến ô cửa sổ nói với với V1 đang ở trong nhà để em hai trăm ý là hỏi mua 200.000 đồng tiền ma t y Heroine và nâng nắp sắt của ô cửa sổ lên đưa cho V1 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, V1 nh n tiền và nói một tay em đ lên cửa đi rồi trả lại cho H2 300.000 đồng và lấy trong túi áo 02 gói giấy bạc đựng ma t y đưa cho H2. Sau khi mua đươc ma t y, H2 quay lại chỗ ông Hà Văn T1 đang đứng chờ. H2 bảo ông T1 chở H2 đi theo chỉ d n để tìm chỗ sử dụng ma túy. Vừa đi được một đoạn thì gặp L1 đang đi bộ. H2 nói đi cùng không , L1 đồng ý ngồi lên xe để ông T1 điều khiển. Khi đi đến khu vực khu dân cư trường học, thuộc tổ 4, phường MĐ, thành phố BGi , H2 bảo ông T1 dừng lại. H2 và L1 xuống xe đi bộ xuống khu vực bãi đất trống để sử dụng ma tuý. L1 lấy gói ma túy vừa mua được của V1 ra sử dụng hết, H2 chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố BGi phát hiện bắt quả tang, v t chứng thu giữ:

- 02 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine – Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hồng, được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu QT .

- Thu giữ của Ngô Xuân H2 số tiền 300.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri ZK14577584; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri ZX18273947 – được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu TH ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng;

- Thu giữ của Phạm Văn L1 : 01 mảnh giấy bạc có 02 mặt mầu trắng bạc, trong đó một mặt bám dính muội đen - được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu QT 1 ; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri OB16682750 - được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu TL .

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của Ngô Xuân H1 phát hiện 02 bức ảnh chụp tờ tiền 500.000 đồng số seri GA20615784 , và 01 đoạn video có hình ảnh Hồng mua ma túy ngày 24/11/2021; kiểm tra điện thoại thu giữ của Phạm Văn L1 phát hiện 03 bức ảnh chụp tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri ZK14577584 .

Sau khi bán được ma túy cho H2 và L1, V1 ở trong nhà có tiếng người gọi ở cửa ch nh, V1 mở ô thoáng ở cửa ch nh thì thấy chị Triệu Thị H1, sinh năm 1984 (là em ruột của V1 ; anh Trần Văn M1, sinh năm 1989 (là chồng của H1), cùng trú tại: Số nhà 120, đường bờ đê ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi ; bà Nguyễn Thị M2 , sinh năm 1978, tr tại số nhà 168, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , bà Ngô Thị Bẩy, sinh năm 1961, tr tại số nhà 51, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi đang đang đứng ở sân trước cửa nhà V1 nói chuyện về việc S1 bị lực lượng Công an mời lên làm việc. Do sợ hãi hành vi mua bán ma túy bị phát hiện, V1 lấy gói nilon mầu đen bên trong đựng các gói ma tuý ở trong người ra đưa qua ô thoáng cửa ch nh cho H1 và nói vứt t i rác ra ph a bờ sông cho chị . H1 cầm gói nilon mầu đen bên trong đựng ma tuý V1 đưa và đi ra sân bê tông ở sườn đê trước cửa nhà V1 vứt xuống nền rãnh bê tông. Sau đó V1 mở cánh cửa ch nh ra rồi lấy t p tiền từ trên ban thờ và tiền từ trong người V1 (trong đó có số tiền V1 bán ma t y thu được đưa cho H1 nói đưa cho bà B1 hộ chị . H1 cầm tiền V1 đưa đi ra chỗ bà B1 và nói chị V1 bảo cháu đưa cho bà . Bà B1 cầm tiền H1 đưa và cho vào t i áo bên phải đang mặc. Sau đó, V1 tiếp tục lấy t i nilon màu trắng bên trong đựng nhiều vỏ t i nilon màu trắng viền màu đỏ đưa cho bà M2 nói bà cất hộ con . Bà M2 cầm t i nilon màu trắng V1 đưa và cầm sang nhà bà B1 thì thấy chị Nguyễn Thị Kim Th1 , sinh năm 1987, tr tại số nhà 51, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi đang đứng ở cửa nhà phơi quần áo bà M2 đưa t i nilon mầu trắng và nói với Th1 cho chị V1 gửi t i này . Thoa cầm t i nilon M2 đưa cất ở trong t i nilon treo bờ tường sau cổng nhà Th1.

Đến 9 giờ 30 ngày 24/11/2021, Cơ quan điều tra đến thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Thị Khánh V1 , phát hiện thu giữ:

- 01 mảnh nilon mầu đen được quấn ngoài bằng dây chun nịt mầu vàng, bên trong đựng 02 túi nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, trong đó: 01 t i nilon đựng 21 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc và 01 t i nilon đựng 38 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mầu trắng bạc – phát hiện thu giữ tại nền bê tông trước cửa nhà Vân; được cho vào 01 phong bì thư niêm phong, dán kìn ký hiệu KX 01 .

- 01 túi nilon mầu đen bên trong đựng 02 túi nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ thu tại bờ tường ph a trước cửa nhà V1.

- 01 túi nilon mầu đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ thu giữ ở khe cửa nhà V1.

- 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng: 08 túi nilon mầu trắng bên trong mỗi t i đựng nhiều dây chun mầu đen; 02 t i nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong mỗi t i đựng nhiều túi nilon mầu trắng có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ - thu giữ trong tủ giầy dép nhà V1.

- 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng nhiều dây chun nịt mầu vàng - thu giữ trong tủ giầy dép nhà V1.

- 01 qu n giấy bạc thu giữ trên nóc tủ bếp trong nhà của V1.

- Nhiều mảnh nilon mầu đen, không kiểm đếm số lượng, thu giữ trong tủ bếp nhà V1.

- 01 chứng minh thư mang tên Triệu Thị Khánh V1 ; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Triệu Thị Khánh V1 về hành vi Mua bán trái phép chết ma t y .

Cơ quan điều tra còn tiến hành thu giữ của của Trần Văn M1 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số tiền 2.400.000 đồng; Triệu Thị H1 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số tiền 5.230.000 đồng; Nguyễn Thị M2 : số tiền 2.345.000 đồng; 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 8 Plus; Ngô Thị B1: nhiều tờ tiền khác nhau không kiểm đếm số lượng – được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu Ngô Thị B1 ; Nguyễn Thị Kim Th1 : 01 t i nilon màu đỏ, bên trong có chứa nhiều túi nilon màu trắng có rãnh khóa; Nguyễn Văn S1 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám, số tiền 20.248.000 đồng, 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao đã qua sử dụng.

Kết lu n giám định số 1920/KL – KTHS, ngày 29/11/2021, Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Bắc giang đã có, kết lu n:

Trong 01 (một phong bì ký hiệu QT đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng đều là ma tuý Heroine có tổng khối lượng 0,081 gam.

Trong 01 (một phong bì ký hiệu KX01 đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 38(ba mươi tám gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng (tất cả đựng trong 01(một t i nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ đều là ma tuý Heroine có tổng khối lượng 1,397 gam.

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 21(hai mươi mốt gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng (tất cả đựng trong 01(một t i nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ đều là ma tuý Heroine có tổng khối lượng 0,828 gam.

Kết lu n giám định số: 2123/KL – KTHS, ngày 28/12/2021 của Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết lu n:

Trong 01 phong bì ký hiệu QT1 đã được niêm phong gửi giám định:

- Trong m u chất muội bám d nh trên một mặt của 01(một mảnh giấy bạc có 02(hai mặt màu trắng bạc không tìm thấy thành phần chất ma tuý.

Kết lu n giám định số: 1951/KL – KTHS, ngày 03/12/2021, Phòng Kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết lu n:

1 - Trên 01(một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng có số Seri: OB 16682750 đựng trong phong bì ký hiệu TL phát hiện 02(hai dấu vết đường vân bằng phương pháp sử dụng đèn polilight, đường vân màu xanh, trong đó có 01 dấu vết đường vân thể hiện rõ đặc điểm, đủ yếu tố giám định.

2. 01 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định so với dấu vân in ở ô Cái trái trên chỉ bản mang tên Triệu Thị Khánh V1 , sinh năm 1977, nơi cư tr Tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi là của cùng một người.

Ngoài ra kết lu n còn xác định trong phong bì thư ký hiệu Ngô Thị Bảy có tờ tiền 500.000 đồng số seri GA20615784.

Kết lu n giám định số: 8718/KL - C09-P6, ngày 15/02/2022, Viện khoa học hình sự, Bộ Công an có, kết lu n:

- Trong m u v t gửi giám định tìm thấy 01(một tệp video có tên VID20211124065357.mp4 thời lượng 00 ph t 43 giây, tệp video có âm thanh và không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung bên trong tệp video đó. Nội dung hội thoại trong tệp video được chuyển thành dạng văn bản. Thời gian khởi tạo thể hiện thuộc t nh của tệp video là ngày 24/11/2021.

- Không xác định được có tiếng nói của Ngô Xuân H2 và Triệu Thị Khánh V1 trong file ghi âm m u cần giám định do chất lượng ghi âm kém

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa 02(hai file hình ảnh thể hiện cùng một nội dung 01(một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng(năm trăm nghìn đồng có số Seri: GA20615784 lưu trữ ở mục thư viện trong điện thoại tạm giữ của Ngô Xuân H2 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu ĐT H2 Thời gian khởi tạo thể hiện thuộc t nh của 02 (hai file ảnh trên là ngày 24/11/2021.

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa 03 (ba file hình ảnh lưu trữ ở mục thư viện trong điện thoại tạm giữ của Phạm Văn L1 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu ĐTL . Thời gian khởi tạo thể hiện thuộc t nh của 03(ba file ảnh trên là ngày 24/11/2021.

Đối với hành vi Triệu Thị H1 cầm túi nilon có chứa ma túy V1 đưa cho để đi vứt và cầm số tiền V1 bán ma t y có được đưa cho bà B1, tuy nhiên H1 không biết t i nilon trên đựng ma túy và nguồn gốc số tiền V1 đưa cho do đâu mà có nên không phạm tội.

Đối với Nguyễn Văn S1 là người sinh sống như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn cùng với Triệu Thị Khánh V1 nhưng S1 không biết và không tham gia mua bán trái phép chất ma túy cùng V1 nên không có căn cứ để xử lý đồng phạm đối với S1. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại tạm giữ của Nguyễn Văn S1 phát hiện nhiều tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc với Đỗ Văn Tr1, sinh năm 1988, tr tại: thôn TrRa, xã HS, huyện HL, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 30/12/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố Bị cáo đối với Nguyễn Văn S1 và Đỗ Văn Tr1 về hành vi Đánh bạc đồng thời tách hồ sơ cùng tài liệu và đồ v t tài sản tạm giữ của Nguyễn Văn S1 để xử lý theo quy định của pháp lu t.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,081 gam chất ma tuý Heroine của Ngô Xuân H2 và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Văn L1 , bị bắt quả tang. Trưởng Công an thành phố BGi đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh đối với H2và L1 về những hành vi trên.

Về v t chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng trả lại cho Nguyễn Thị M2 : số tiền 2.425.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus; Trần Văn M1 : số tiền 2.400.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu đen; Triệu Thị H1 : số tiền 5.230.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, là những tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Cơ quan điều tra, Triệu Thị Khánh V1 đã khai nh n hành vi phạm tội của bản thân. Cơ quan điều tra đã cho Triệu Thị Khánh V1 thực nghiệm lại toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi truy tố Triệu Thị Khánh V1 về tội: Mua bán trái phép chất ma t y theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Thị Khánh V1 khai nh n toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Thị Khánh V1 từ 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy . Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 24/11/2021. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Triệu Thị Khánh V1 số tiền từ 10 (Mười) triệu đến 15 (Mười năm) triệu đồng.

3. V t chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư đựng m u v t là ma túy hoàn lại sau giám định (ký hiệu QT , QT1 , KX01 ; 01 b t lửa màu đỏ; 01 túi nilon mầu đen bên trong đựng 02 túi nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng: 08 túi nilon mầu trắng bên trong mỗi t i đựng nhiều dây chun mầu đen; 02 t i nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong mỗi t i đựng nhiều túi nilon mầu trắng có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng nhiều dây chun nịt mầu vàng; 01 qu n giấy bạc thu giữ trên nóc tủ bếp trong nhà của Vân; nhiều mảnh nilon mầu đen, không kiểm đếm số lượng, thu giữ trong tủ bếp nhà Vân; 01 hộp giấy màu vàng được niêm phong dán kín – là những v t dụng liên quan đến việc sử dụng và mua bán ma túy.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 , là tiền của Vân do bán ma t y mà có được.

- Trả lại cho Ngô Xuân H1 số tiền 300.000 đồng (được niêm phong hoàn lại sau giám định ký hiệu TH , 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 867617023346813; số imei 2 là 867617023346805 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định).

- Trả lại cho Phạm Văn L1 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 863069032271638; số imei 2 là 863069032271620 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định), số tiền 100.000 đồng.

- Trả lại cho Triệu Thị Khánh V1 01 chứng minh thư mang tên Triệu Thị Khánh V1 ; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số tiền 1.845.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Triệu Thị Khánh V1 : Không tranh lu n.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp lu t, cảm thấy rất hối h n về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố BGi , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của đương sự: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được triệu t p hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ lu t tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, v t chứng thu giữ, Kết lu n giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết lu n:

Khoảng 7 giờ ngày 24/11/2021, tại nhà ở của Triệu Thị Khánh V1 , sinh năm 1977, địa chỉ số nhà 49, đường đê ChL 1, tổ dân phố ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , Triệu Thị Khánh V1 có hành vi bán trái phép 100.000 đồng tiền ma túy Heroine cho Phạm Văn L1 , sinh năm 1976, tr tại: Số nhà 262, thôn Ng , xã DTr , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang. Sau đó, Vân tiếp tục bán trái phép 0,081 gam chất ma túy Heroine với giá 200.000 đồng cho Ngô Xuân H2, sinh năm 1995, tr tại thôn PhL , xã PhH , huyện TY , tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Thị Khánh V1 phát hiện thu giữ 2,225 gam chất ma túy Heroine của Vân, mục đ ch để bán.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nh n thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng v n thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma t y theo Điều 251 Bộ lu t Hình sự. Trong ngày 24/11/2021, bị cáo đã thực hiện 02 hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Phạm Văn L1 và Ngô Xuân H1 . Do v y, Bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi truy tố bị cáo Triệu Thị Khánh V1 theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t hình sự là có căn cứ và đ ng pháp lu t.

Về nhân thân: Trước khi bị xét xử ngày hôm nay, bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì bằng bản án có hiệu lực pháp lu t, chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do v y cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm tr t tự xã hội, làm mất an ninh tr t tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như nghiện hút,trộm cắp tài sản, cướp tài sản.... là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn tr t tự công cộng của xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì lợi ích cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do v y cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích và biết tuân thủ pháp lu t để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đ ch lợi nhu n đáng nhẽ cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ lu t hình sự để phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo thấy: Bị cáo là lao động tự do không có thu nh p ổn định, con nhỏ, chồng bị cáo đã chết nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp lu t.

Về v t chứng:

- Đối với 03 phong bì thư đựng m u v t là ma túy hoàn lại sau giám định (ký hiệu QT , QT1 , KX01 ; 01 b t lửa màu đỏ; 01 túi nilon mầu đen bên trong đựng 02 túi nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng: 08 túi nilon mầu trắng bên trong mỗi t i đựng nhiều dây chun mầu đen; 02 t i nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong mỗi t i đựng nhiều túi nilon mầu trắng có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng nhiều dây chun nịt mầu vàng; 01 qu n giấy bạc thu giữ trên nóc tủ bếp trong nhà của Vân; nhiều mảnh nilon mầu đen, không kiểm đếm số lượng, thu giữ trong tủ bếp nhà Vân; 01 hộp giấy màu vàng được niêm phong dán kín – là những v t dụng liên quan đến việc sử dụng và mua bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 500.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 , là tiền của Vân do bán ma túy mà có nên cần tịch thu ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 300.000 đồng (được niêm phong hoàn lại sau giám định ký hiệu TH , 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 867617023346813; số imei 2 là 867617023346805 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định) là tài sản của Ngô Xuân H1 cần trả lại cho Ngô Xuân H1 ;

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 863069032271638; số imei 2 là 863069032271620 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định), số tiền 100.000 đồng là tài sản của Phạm Văn L1 cần trả lại cho Phạm Văn L1 .

- Đối với: 01 chứng minh thư mang tên Triệu Thị Khánh V1 ; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số tiền 1.845.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 là tài sản của bị cáo cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi Triệu Thị H1 cầm túi nilon có chứa ma t y Vân đưa cho để đi vứt và cầm số tiền Vân bán ma t y có được đưa cho bà Bảy, tuy nhiên Hiền không biết t i nilon trên đựng ma túy và nguồn gốc số tiền Vân đưa cho do đâu mà có nên không phạm tội.

Đối với Nguyễn Văn Sơn là người sinh sống như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn cùng với Triệu Thị Khánh V1 nhưng Sơn không biết và không tham gia mua bán trái phép chất ma túy cùng Vân nên không có căn cứ để xử lý đồng phạm đối với Sơn. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại tạm giữ của Nguyễn Văn Sơn phát hiện nhiều tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc với Đỗ Văn Trường, sinh năm 1988, trú tại: thôn Trại Rào, xã Hoà Sơn, huyện Hữu L ng, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 30/12/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố Bị cáo đối với Nguyễn Văn Sơn và Đỗ Văn Trường về hành vi Đánh bạc đồng thời tách hồ sơ cùng tài liệu và đồ v t tài sản tạm giữ của Nguyễn Văn Sơn để xử lý theo quy định của pháp lu t.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,081 gam chất ma tuý Heroine của Ngô Xuân H2 và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Văn L1 , bị bắt quả tang. Trưởng Công an thành phố BGi đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh đối với Hồng và Long về những hành vi trên.

Về v t chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng trả lại cho Nguyễn Thị M2 : số tiền 2.425.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus; Trần Văn M1 : số tiền 2.400.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia màu đen; Triệu Thị H1 : số tiền 5.230.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, là những tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ lu t tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ lu t tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1.1. Xử phạt bị cáo Triệu Thị Khánh V1 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma t y , thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/11/2021.

1.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về v t chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì thư đựng m u v t là ma túy hoàn lại sau giám định (ký hiệu QT , QT1 , KX01 ; 01 b t lửa màu đỏ; 01 túi nilon mầu đen bên trong đựng 02 túi nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng: 08 túi nilon mầu trắng bên trong mỗi t i đựng nhiều dây chun mầu đen; 02 t i nilon mầu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ bên trong mỗi t i đựng nhiều túi nilon mầu trắng có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ; 01 túi nilon mầu trắng bên trong đựng nhiều dây chun nịt mầu vàng; 01 qu n giấy bạc thu giữ trên nóc tủ bếp trong nhà của Vân; nhiều mảnh nilon mầu đen, không kiểm đếm số lượng, thu giữ trong tủ bếp nhà Vân; 01 hộp giấy màu vàng được niêm phong dán kín – là những v t dụng liên quan đến việc sử dụng và mua bán ma túy.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 , là tiền của Vân do bán ma t y mà có được.

- Trả lại cho Ngô Xuân H1 số tiền 300.000 đồng (được niêm phong hoàn lại sau giám định ký hiệu TH , 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 867617023346813; số imei 2 là 867617023346805 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định).

- Trả lại cho Phạm Văn L1 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo có số imei 1 là 863069032271638; số imei 2 là 863069032271620 (được đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định), số tiền 100.000 đồng.

- Trả lại cho Triệu Thị Khánh V1 01 chứng minh thư mang tên Triệu Thị Khánh V1 ; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số tiền 1.845.000 đồng (trong phong bì thư hoàn lại sau giám định ký hiệu Ngô Thị B1 nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

3. Về án ph : Bị cáo Triệu Thị Khánh V1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự.

Cỡ chữ