vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định số 123 MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 6 năm 2022 giữa Công an quận Q và Chi cục Thi hành án dân sự quận Q). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nga - không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Q
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày 23-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Q THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Bích Thủy

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận Q, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Q, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Q, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Mai Thị N, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 28/165 đường Đ, phường L, quận Q, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình Thi (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đệ; có chồng là Nguyễn Ngọc Hưng (đã ly hôn) và 04 con; tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án chưa được xóa án tích: Án số 167/2021/HSST ngày 29/9/2021, Tòa án nhân dân quận Q xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Chưa chấp hành hình phạt tù); bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2022, đến ngày 03/4/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do buồn chán nên Mai Thị N thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 31/3/2022, N đi bộ đến khu vực đường tàu Cát Cụt, Lê Chân, Hải Phòng để tìm mua ma túy. Tại đây N gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Người này đồng ý, nhận tiền và bán cho N 01 gói nilon kích thước khoảng 2x3cm bên trong chứa ma túy đá. N cất giấu ở túi quần bên phải. N đi xe ôm của một người không quen biết đến ngã ba Bà Sáo rồi xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi N đi đến khu vực đầu ngõ 230 đường An Đà thì bị lực lượng Công an phường Đằng Giang kiểm tra bắt giữ, thu giữ trong túi quần bên phải của N 01 gói nilon kích thước khoảng 2x3cm trong chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an dẫn giải N về trụ sở Công an phường Đằng Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của N không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 123/KLGĐ-MT ngày 01/4/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu của N là ma túy, có khối lượng 0,59 gam, là loại Methamphetamine. Mẫu nước tiểu của N tìm thấy chất ma túy Methamphetamine .

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSNQ ngày 02/6/2022, Viện Kiểm sát nhân dân quận Q, thành phố Hải Phòng truy tố Mai Thị N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị N khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Q truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mai Thị N về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Mai Thị N từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt 08 năm 05 tháng 26 ngày tù tại Bản án số 167/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Q. Bị cáo Mai Thị N phải chấp hành hình phạt chung từ 10 năm 11 tháng 26 ngày đến 11 năm 5 tháng 26 ngày tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo N. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Q, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Bị cáo Mai Thị N khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 31/3/2022, tại khu vực đầu ngõ 230 An Đà, phường Đằng Giang, quận Q, thành phố Hải Phòng, Mai Thị N bị Công an phường Đằng Giang bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,59 gam chất ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Mai Thị N có 01 tiền án chưa được xóa án tích: Tại bản án số 167/2021/HSST ngày 29/9/2021, Tòa án nhân dân quận Q xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo N đã bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo Mai Thị N.

- Về xử lý vật chứng:

01 phong bì niêm phong sau giám định số 123MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Mai Thị N, chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ, không có căn cứ để xem xét, xử lý. Người đàn ông lái xe ôm không biết N tàng trữ ma túy nên không xem xét, xử lý.

- Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Mai Thị N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mai Thị N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 167/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Q, bị cáo Mai Thị N phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm tù (trừ cho bị cáo 04 ngày tạm giữ tại Bản án 167/2021/HSST ngày 29/9/2021 trước đó từ ngày 04/6/2021 đến ngày 08/6/2021). Bị cáo còn phải chấp hành 10 (mười) năm 11 (mười một) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/3/2022.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định số 123 MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 6 năm 2022 giữa Công an quận Q và Chi cục Thi hành án dân sự quận Q).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Mai Thị N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ