vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Trí H đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật ch ng, áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Đặng Trí H do bán trái phép chất ma túy mà có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 57/2022/HS-ST Tuyên án 22/12/2022
Phúc thẩm Bản án 32/2023/HSPT-QĐ Tuyên án 16/02/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Trí H đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LV
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày: 22 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hiến Cƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vạn Thế.

2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Duẩn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LV.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LV tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Trí H, sinh năm 1989, tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Hớt tóc; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không có; con ông: Đặng Văn S và bà: Nguyễn Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; tạm giữ ngày: 18/7/2022; tạm giam từ ngày 21/7/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Trần Văn T, sinh năm 1989; Cư trú tại: Ấp V, xã L, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt);

2. Lê Văn K, sinh năm 1995; Cư trú tại: Ấp V, xã L, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 18/7/2022, Đặng Trí H đến khu vực công viên Sa Đéc, thuộc phường 1, thành phố Sa Đéc gặp một thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ) để mua ma túy với số tiền là 5.000.000 đồng gồm 02 bịch nylon dạng nắp kẹp và 01 bịch nylon hàn kín. Sau khi mua được ma túy, H đem về cất giữ trong nhà thuộc ấp K, xã T, huyện LV để bán lại kiếm lời.

Vào khoảng 14 giờ c ng ngày, do có nhu c u sử dụng ma tuý, nên Tr n Văn T, sinh năm 1989, cư trú tại ấp V, xã L, huyện LV sử dụng số điện thoại 0346.933.181 gọi vào số điện thoại 0939.702.022 của H hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. H đồng ý và hẹn giao dịch tại nhà của H thuộc ấp Khánh An, xã T, huyện LV. Sau đó, H chiết một ph n ma túy trong bịch dạng nắp kẹp, để vào một bịch nylon và d ng bật lửa hàn kín lại và c m bịch ma túy ra trước c ng nhà và ném xuống đường đal cách ch đ ng khoảng 02m rồi đ ng đợi T đến.

Đến 14 giờ 20 phút c ng ngày, T nhờ bạn tên Lê Văn K, sinh năm 1995 cư trú tại ấp V, xã L, huyện LV chở T đến nhà của H. Khi đi T nói với K là chở đến đó có công việc ch không nói đi mua ma túy, K đồng ý. Đến nơi, T và K thấy H đ ng trước cửa nhà, K thấy T đi đến đưa cho H 200.000 đồng và H chỉ bịch ma túy hàn kín màu trắng dưới đường đal cách đó khoảng 02m cho T, T đi đến lấy bịch ma túy nắm trong lòng bàn tay trái thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật ch ng gồm:

- Của Tr n Văn T: Lòng bàn tay trái phát hiện 01 bịch nylon hàn kín ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy) được niêm phong ghi ký hiệu A, có chữ ký tên của Điều tra viên V Trọng Thủy và người liên quan Tr n Văn T.

- Của Đặng Trí H:

+ Lòng bàn tay trái phát hiện 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, t ng cộng 200.000 đồng; Trong ví da màu đen số tiền 2.000.000 đồng.

Túi áo phía trước bên trái 01 điện thoại di động hiệu OPPO Remo 7 c ng sim số 0939.702.022 và 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen, đ qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp ch ở của Đặng Trí H tại số 01, ấp Khánh An, x Tân Khánh Trung, huyện LV. Cơ quan điều tra đ thu giữ:

- Trên tủ g ở nhà sau:

01 bịch nylon nắp kẹp màu đỏ bên trong có: 01 bịch nylon dạng nắp kẹp bên trong ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy); 01 bịch nylon hàn kín ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy) được niêm phong ghi ký hiệu số 1, có chữ ký tên của Điều tra viên V Trọng Thủy và người liên quan Đặng Trí H. H khai đây là ma túy của H tàng trữ để bán lại kiếm lời.

01 cây kéo b ng kim loại; 01 bật lửa; 01 đoạn ống hút màu đen cắt nhọn 01 đ u; 01 cân điện tử màu đen.

- Trên giường trong phòng ngủ của H: 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy.

- Trên đ u tủ kiếng ở nhà bếp: 01 bịch nylon nắp kẹp có viền màu đỏ, bên trong có 06 bịch nylon hàn kín 03 cạnh và 01 bịch nylon hàn kín ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy) được niêm phong ghi ký hiệu số 2, có chữ ký tên của Điều tra viên V Trọng Thủy và người liên quan Đặng Trí H. H khai đây là ma túy của H tàng trữ để bán lại kiếm lời.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy, phát hiện Đặng Trí H, Tr n Văn T dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Lê Văn K âm tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số: 600/KL-KTHS ngày 20/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn ch a trong 01 bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,031 gam, loại Methamphetamine. M u tinh thể rắn sử dụng hết cho công tác giám định, vỏ bịch nylon được niêm phong số 614 ngày 18/7/2022, hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lấp Vò quản lý.

Kết luận giám định số: 603/KL-KTHS ngày 20/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

+ Tinh thể rắn ch a trong 02 bịch nylon (01 bịch nylon dạng nắp kẹp và 01 bịch nylon hàn kín) được niêm phong trong bao thư màu trắng, ghi ký hiệu số 1 gửi giám định đều là chất ma túy, có khối lượng 4,714 gam, loại Methamphetamine. M u tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 4,467 gam được niêm phong số 615/1 ngày 18/7/2022, hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lấp Vò quản lý.

+ Tinh thể rắn ch a trong 01 bịch nylon dạng nắp kẹp, được niêm phong trong bao thư màu trắng ghi ký hiệu số 2 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,460 gam, loại Methamphetamine. M u tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 0,393 gam được niêm phong số 615/2 ngày 18/7/2022, hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lấp Vò quản lý.

Cơ quan điều tra tiến hành cho Đặng Trí H nhận dạng bịch ma túy thu giữ trong lòng bàn tay trái của Tr n Văn T, kết quả: H thừa nhận bịch ma túy trong lòng bàn tay trái của T là của H vừa bán cho T với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Ngày 10/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại hiệu OPPO của Đặng Trí H, bên trong có sim số 0939.702.022 thể hiện vào ngày 18/7/2022: Lúc 14 giờ nhận cuộc gọi đến từ số 0346.933.181 thời lượng 45 giây. Đặng Trí H khai nhận cuộc gọi đến từ số điện thoại 0346.933.181 của Tr n Văn T liên lạc với số điện thoại 0939.702.022 của H vào thời gian trên để giao dịch mua ma túy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Remo 7 và 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen, qua điều tra xác định là của Đặng Trí Trung (em ruột của H), Trung cho H mượn điện thoại để liên lạc với gia đình, không biết H d ng để liên hệ bán ma tuý, nên ngày 11/11/2022 cơ quan điều tra đ trả 02 điện thoại trên cho anh Trung.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng thu giữ trong ví da màu đen của H là tài sản cá nhân của H, không liên quan đến việc phạm tội, H tự nguyện giao nộp để đảm bảo thi hành án. Đối với số tiền 200.000 đồng H bán ma túy mà có, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với Lê Văn K có hành vi chở Tr n Văn T đi mua trái phép chất ma túy. Qua điều tra xác định, K không biết việc T đi mua trái phép chất ma túy, khi T nhờ chở đi đến địa điểm mua ma túy, thì T chỉ nói là chở đi công việc, đồng thời K không sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xử lý K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy c ng với T.

Đối với chất ma túy có khối lượng 5,174 gam, loại Methamphetamine thu giữ của Đặng Trí H. Quá trình điều tra xác định, H tàng trữ số lượng ma túy trên nh m mục đích là để bán lại lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, hành vi của H chỉ xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy là đủ.

Đối với người thanh niên bán trái phép ma túy cho H, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, giao cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm r .

Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKSLVo ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện LV đ truy tố bị cáo Đặng Trí H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Trên cơ sở phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; nguyên nhân, điều kiện d n đến tội phạm, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đặng Trí H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Trí H m c hình phạt từ 07 đến 08 năm tù và áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt b sung b ng tiền đối với bị cáo Đặng Trí H từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Về xử lý vật ch ng, căn c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng của Đặng Trí H do bán trái phép chất ma túy mà có; Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng do H tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ d ng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, vật không còn giá trị sử dụng gồm:

+ 01 sim điện thoại số 0939.702.022.

+ Vỏ bịch nylon còn lại sau giám định, ghi niêm phong số 614 ngày 18/7/2022.

+ M u tinh thể rắn còn lại sau giám định, ghi niêm phong số 615/1 và số 615/2 c ng ngày 18/7/2022.

+ 01 cây kéo b ng kim loại, đ qua sử dụng.

+ 01 bật lửa, đ qua sử dụng.

+ 01 đoạn ống hút màu đen, cắt nhọn 01 đ u.

+ 01 cân điện tử, màu đen.

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.

+ 06 (sáu) bịch nylon hàn kín 03 cạnh, bên trong không ch a gì.

- Bị cáo Đặng Trí H trình bày: Đồng ý xét xử vắng mặt đối với người làm ch ng Tr n Văn T và Lê Văn K, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung Cáo trạng đ truy tố và không khiếu nại về kết luận giám định đối với chất ma túy. Tại ph n tranh luận, bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau c ng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện và Điều tra viên trong quá trình điều tra; của Viện kiểm sát Huyện và Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo H khai nhận: Khoảng 09 giờ sáng ngày 18/7/2022, bị cáo đến khu vực công viên Sa Đéc gặp 01 người thanh niên không r họ tên địa chỉ, bị cáo hỏi mua ma túy gồm 02 bịch nylon dạng nắp kẹp và 01 bịch nylon hàn kín với giá 5.000.000 đồng. Sau đó bị cáo đem về cất giấu trong nhà. Khoảng 14 giờ c ng ngày, bị cáo nhận điện thoại của anh T hỏi mua ma túy giá 200.000 đồng, nên bị cáo chiết một ph n ma túy trong bịch dạng nắp kẹp để vào bịch nylon và d ng bật lửa hàn kín lại, sau đó c m bịch ma túy ra trước c ng nhà và ném xuống đường đal cách ch bị cáo đ ng khoảng 02 mét. Khoảng 20 phút sau, thì anh T đến c ng 01 người thanh niên, anh T đi đến đưa bị cáo 200.000 đồng và bị cáo chỉ bịch ma túy dưới đường đal cho anh T, anh T đến lấy ma túy nắm trong lòng bàn tay trái thì bị Công an bắt quả tang thu giữ 01 bịch nylon hàn kín được niêm phong ghi ký hiệu A.

Sau đó, cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp ch ở của bị cáo và thu giữ:

- Trên đ u tủ g ở nhà sau của bị cáo 01 bịch nylon dạng nắp kẹp bên trong ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy t ng hợp) và 01 bịch nylon hàn kín ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy t ng hợp) được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 1. Bị cáo thừa nhận đây là ma túy do bị cáo tàng trữ để bán lại kiếm lời.

- Trên đ u tủ kiếng ở nhà bếp 01 bịch nylon nắp kẹp có viền màu đỏ bên trong có 06 bịch nylon hàn kín 03 cạnh và bịch nylon hàn kín có ch a những hạt tinh thể rắn (nghi là ma túy t ng hợp) được niêm phong ghi ký hiệu số 2. Bị cáo thừa nhận đây là ma túy do bị cáo tàng trữ để bán lại kiếm lời.

Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ nhiều đồ vật khác. Bị cáo thống nhất với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản khám xét c ng ngày 18/7/2022.

Xét lời khai của bị cáo H ph hợp với các Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đ kết luận:

- Kết luận giám định số 600/KL-KTHS ngày 20/7/2022, kết luận: Tinh thể rắn ch a trong bịch nylon hàn kín, được niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,031 gam, loại Methamphetamine.

- Kết luận giám định số 603/KL-KTHS ngày 20/7/2022, kết luận:

Tinh thể rắn ch a trong 02 bịch nylon (01 bịch dạng nắp kẹp và 01 bịch nylon hàn kín) được niêm phong trong bao thư màu trắng, ghi ký hiệu số 1 gửi giám định đều là chất ma túy, có khối lượng 4,714 gam, loại Methamphetamine.

Tinh thể rắn trong bịch nylon dạng nắp kẹp, được niêm phong trong bao thư màu trắng, ghi ký hiệu số 2 gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,460 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn c kết luận hành vi của bị cáo H đ có đ y đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại điều khoản này quy định như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt t từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt t từ 07 năm đến 15 năm:

a) …

…

i) ... Methamphetamine ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, là nguyên nhân d n đến rất nhiều loại tội phạm và các tệ nạn x hội khác. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai tại phiên tòa hôm nay là c n thiết, nh m răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho x hội nói riêng và cũng nh m phòng ngừa trong toàn x hội nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp 2.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án, có bà ngoại được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt b sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt b sung b ng tiền đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét ph hợp nên chấp nhận.

Về xử lý vật ch ng: Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa ph hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Remo 7 và 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen. Quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của anh Đặng Trí Trung (em ruột của bị cáo H) cho bị cáo H mượn để liên lạc với gia đình, anh Trung không biết bị cáo d ng để liên hệ bán ma tuý, Cơ quan điều tra đ trả lại cho anh Trung 02 điện thoại nêu trên, Hội đồng xét xử xét ph hợp nên chấp nhận.

Đối với anh Lê Văn K có hành vi chở anh Tr n Văn T đi mua trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định được anh K không biết việc anh T đi mua trái phép chất ma túy, đồng thời anh K cũng không sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề nghị xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy ph hợp nên chấp nhận.

Đối với người thanh niên bán trái phép ma túy cho bị cáo H, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra không làm việc được, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Trí H đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Trí H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 18/7/2022.

Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự: Phạt b sung b ng tiền đối với bị cáo Đặng Trí H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Buộc bị cáo Đặng Trí H phải nộp, để nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật ch ng, áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Đặng Trí H do bán trái phép chất ma túy mà có.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) do bị cáo Đặng Trí H tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền 2.200.000 đồng nêu trên, được Điều tra viên Lưu Minh Tuấn đăng nộp ngày 20/12/2022, số TK ghi có: 113002882651 tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Đồng Tháp, Phòng giao dịch huyện LV).

- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ d ng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, vật không còn giá trị sử dụng gồm:

+ 01 sim điện thoại số 0939.702.022.

+ Vỏ bịch nylon còn lại sau giám định, ghi niêm phong số 614 ngày 18/7/2022.

+ M u tinh thể rắn còn lại sau giám định, ghi niêm phong số 615/1 và số 615/2 c ng ngày 18/7/2022.

+ 01 cây kéo b ng kim loại, đ qua sử dụng.

+ 01 bật lửa, đ qua sử dụng.

+ 01 đoạn ống hút màu đen, cắt nhọn 01 đ u.

+ 01 cân điện tử, màu đen.

+ 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.

+ 06 (sáu) bịch nylon hàn kín 03 cạnh, bên trong không ch a gì.

(Vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LV với Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV).

3. Về án phí, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Trí H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Trí H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ