- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "C - H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15-7-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
2. Ông Đặng Minh Lý
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Không tham gia
Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 176/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bồ Thị Kim C, sinh năm 1985; trú tại: Tổ 23, khu phố H, phƣờng L, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1979; trú tại: Tổ 23, khu phố H, phƣờng L, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng; Chỗ ở hiện nay: Số 282, đƣờng số 1, khu phố 2, phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 3 năm 2022, nguyên đơn – bà Bồ Thị Kim C trình bày:
Bà C và ông Lê Văn H chung sống với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là phƣờng C), huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bình Dƣơng và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 16/12/2004.
Con chung: 02 ngƣời
1/ Lê Chi M sinh ngày 24/12/2005
2/ Lê Hiệp A, sinh ngày 06/8/2008
Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, Nhận thấy tình cảm không còn nên bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Lê Văn H
Về con chung: Bà C yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông H cấp dƣỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn đều vắng mặt
Ngày 16/4/2022 nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai đối với việc xét xử
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Bồ Thị Kim C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Văn H nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Lê Văn H có nơi cƣ trú tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Về nội dung: Bà C và ông Lê Văn H chung sống với nhau năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là phƣờng P), huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bình Dƣơng và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 16/12/2004. Do đó, theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông H là hôn nhân hợp pháp.
Bà C yêu cầu ly hôn với ông H với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Vào khoảng tháng 02/ 2022, ông H về nhà cha mẹ ruột ở khu phố 2, phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng sinh sống, không ai còn quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống. Xét thấy: Quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thƣơng yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng bà C và ông H vì không còn tình cảm với nhau nên đã sống riêng nhau một thời gian dài không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống nên chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà C và ông H không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do vậy việc bà C yêu cầu ly hôn ông H là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Bà C và ông H có 02 ngƣời con chung tên Lê Chi M sinh ngày 24/12/2005 và tên Lê Hiệp A, sinh ngày 06/8/2008. Khi ly hôn bà C yêu cầu đƣợc nuôi 02 con chung, xét thấy: Từ khi vợ chồng mâu thuẫn, các con chung sống cùng với bà C, bà C chăm sóc các con tốt nên các con đều khỏe mạnh. Quá trình tố tụng các con chung khai có nguyện vọng ở cùng với bà C. Do vậy cần tiếp tục giao các con chung cho bà C nuôi dƣỡng sẽ đảm bảo quyền lợi của con và phù hợp với nguyện vọng của con.
Về cấp dƣỡng: Bà C không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
- Khoản 1 Điều 14; các Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bồ Thị Kim C đối với bị đơn – ông Lê Văn H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bồ Thị Kim C đƣợc ly hôn với đối ông Lê Văn H
- Về con chung: Bà Bồ Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục 02 ngƣời con chung tên Lê Chi M, sinh ngày 24/12/2005 và tên Lê Hiệp A, sinh ngày 06/8/2008 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về cấp dƣỡng: Ông Lê Văn H không phải cấp dƣỡng nuôi con
- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0005040 ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ct, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố M; - Chi cục THADS thành phố M; - Đƣơng sự - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huỳnh Minh Trí |