- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Van-Tuong"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn" của bà Phan Thị Cẩm V đối với ông Nguyễn Viết Tường.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 12 năm 2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm
Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm V, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ 7, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ 31, phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Đang chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và bản tự khai, Nguyên đơn – bà Phan Thị Cẩm V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Viết T chung sống như vợ chồng từ năm 2016 đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống vợ chồng ngày càng lâm vào tình trạng xấu và không thể kéo dài được nữa. Bản thân tôi đã nhiều lần hàn gắn vợ chồng nhưng không có kết quả, nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T.
Về quan hệ con chung: Tôi và ông Nguyễn Viết T có 01 con chung là Nguyễn Phan Bảo Anh, sinh ngày 06/8/2016. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tôi và ông Nguyễn Viết T không có tài sản chung.
Về nợ chung: Tôi và ông Nguyễn Viết T không có nợ chung.
* Tại Bản tự khai ông Nguyễn Viết T có ý kiến như sau: Tôi và bà Phan Thị Cẩm V chung sống từ năm 2016 nhưng đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chúng tôi chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, đã nhiều lần xảy ra cãi vã nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nhưng không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên thuận tình ly hôn với bà V.
- Về con chung: Tôi và bà Phan Thị Cẩm V có 01 con chung là Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 06/8/2016. Ly hôn tôi đồng ý giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tôi và bà Phan Thị Cẩm V không có tài sản chung.
Về nợ chung: Tôi và bà Phan Thị Cẩm V không có nợ chung.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Phan Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Viết T; về con chung: giao con chung Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 06/8/2016 cho bà Phan Thị Cẩm V trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Viết T không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không có nên không đề cập đến; về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm V, bị đơn ông Nguyễn Viết T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày bà Phan Thị Cẩm V và ông Nguyễn Viết T chung sống như vợ chồng từ năm 2016, đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn và ông bà sống ly thân từ thời gian đó đến nay. Nay bà V xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Ông Nguyễn Viết T có ý kiến trình bày thống nhất ly hôn với bà Phan Thị Cẩm V.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của bà Phan Thị Cẩm V và ông Nguyễn Viết T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà V cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài và không còn tình cảm với ông T nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Nguyễn Viết T, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý cho ông T, ông T cũng làm bản tự khai có xác nhận của Trại giam Nghĩa An, tỉnh Quảng Trị nơi ông T đang chấp hành án. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị Cẩm V là hợp tình hợp lý.
Về quan hệ con chung: Bà Phan Thị Cẩm V trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 06/8/2016. Ly hôn, bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 06/8/2016 và không ông Tường không cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Viết Tường cũng có ý kiến thống nhất theo nguyện vọng của bà V. Hiện nay con chung đang do bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tường đang phải chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An nên việc giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng và ông Tường không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Phan Thị Cẩm V và ông Nguyễn Viết Tường đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Bà Phan Thị Cẩm V và ông Nguyễn Viết Tường đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn" của bà Phan Thị Cẩm V đối với ông Nguyễn Viết Tường.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Viết Tường.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 114/2018, ngày 22 tháng 11 năm 2018 của UBND phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng)
2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Cẩm V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0006181 ngày 07/10/2022.
3. Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |