vanban.org

Bản án 57/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn C. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn C được ly hôn với bà Trần Thị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN, HÀ VĂN C - TRẦN THỊ Đ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền;

2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hà Văn C, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: Số 77/B, ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Trần Thị Đ, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 77/B, ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Hà Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1992, ông Hà Văn C và bà Trần Thị Đ quen biết tìm hiểu nhau rồi tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, vợ chồng đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2004 tại UBND xã T.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, hòa giải được. Đến năm 2017, ông C đi làm thợ mộc ở nhiều tỉnh thành, khoảng thời gian 3-4 tháng mới về nhà 01 lần, tuy nhiên ở nhà thì bà Đ không chăm lo làm ăn, nuôi dạy con cái mà tham gia đánh bạc, lắc tài xỉu gây nợ nần phải bán tài sản trong nhà trả nợ. Bà Đ còn có quan hệ tình cảm với những người đàn ông khác trong khoảng thời gian 3-4 tháng, ông C không biết những người đàn ông này họ tên là gì và địa chỉ ở đâu. Ông C có khuyên ngăn và tha thứ nhiều lần nhưng bà Đ vẫn không thay đổi, từ đó tình cảm giữa ông C và bà Đ trở nên xa cách, thường xuyên cự cãi, cuộc sống không còn hạnh phúc, cả hai không còn tiếng nói chung. Từ năm 2017 đến nay, ông C thỉnh thoảng có đi làm xa nhà nhưng chủ yếu vẫn ở nhà để chăm sóc cho các con, còn bà Đ bỏ nhà đi từ khoảng năm 2019 đến nay không trở về. Thời gian từ năm 2019 đến nay, vợ chồng cắt liên lạc và không có hàn gắn tình cảm.

Nay ông Hà Văn C nhận thấy không còn tình cảm với bà Trần Thị Đ, không hàn gắn lại được nên ông yêu cầu ly hôn với bà Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Hà Văn H, sinh năm 1994; Hà Trần Thảo N, sinh ngày 15/3/2006 và Hà Trần Hiền M, sinh ngày 15/3/2006. Hiện nay, Hà Văn H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với Hà Trần Thảo N và Hà Trần Hiền M đang sống chung với ông C. Sau khi ly hôn, ông C yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung Hà Trần Thảo N và Hà Trần Hiền M, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà Đ không có văn bản ghi ý kiến về việc ông C yêu cầu ly hôn, nuôi con, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn ông Hà Văn C đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn bà Trần Thị Đ chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự như vắng mặt không có lý do tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cần phê phán rút kinh nghiệm.

Việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Hà Văn C đối với bà Trần Thị Đ.

Về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Hà Trần Thảo N, sinh ngày 15/3/2006 và Hà Trần Hiền M, sinh ngày 15/3/2006 cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng, bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do ông C không có yêu cầu. Đối với con chung Hà Văn H, sinh năm 1994 đã trưởng thành, ông C và bà Đ không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con. Bị đơn bà Trần Thị Đ có địa chỉ tại xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Hà Văn C và bà Trần Thị Đ là hợp pháp, ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 29/6/2004. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tại phiên tòa, ông C kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà Đ vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, không hàn gắn lại được, bà Đ không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh không có mặt để trình bày ý kiến.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông C và bà Đ có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và về kinh tế của gia đình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bà Đ không chăm lo làm ăn để cùng ông C xây dựng hạnh phúc gia đình mà còn tham gia đánh bạc gây nợ nần, ông C có khuyên ngăn nhưng bà Đ vẫn không thay đổi, ngoài ra bà còn có tình cảm với người khác, từ đó khiến vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, tình cảm phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc, ông bà đã sống xa nhau thời gian dài nhưng cả hai không hàn gắn lại được, cho thấy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông C là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông C và bà Đ có có 03 con chung tên Hà Văn H, sinh năm 1994, Hà Trần Thảo N, sinh ngày 15/3/2006 và Hà Trần Hiền M, sinh ngày 15/3/2006. Hiện nay, con chung Hà Văn H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với 02 con chung Hà Trần Thảo N và Hà Trần Hiền M đang sống chung với ông C. Ông C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Thảo N và Hiền M, bà Đ không có văn bản ghi ý kiến và không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử xét thấy, 02 cháu Thảo N và Hiền M sống với ông C đã ổn định, phát triển tốt về mọi mặt, thuận lợi cho việc học tập và điều này phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu tại Văn bản ghi ý kiến ngày 07/3/2022. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông C là được trực tiếp nuôi 02 con chung Hà Trần Thảo N và Hà Trần Hiền M, phù hợp với khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông C không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con, bà Đ cũng không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông C không yêu cầu giải quyết, bà Đ cũng không có mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa để trình bày ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn C.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn C được ly hôn với bà Trần Thị Đ.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Hà Trần Thảo N, sinh ngày 15/3/2006 và Hà Trần Hiền M, sinh ngày 15/3/2006 cho ông Hà Văn C trực tiếp muôi dưỡng. Bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con, do ông C không có yêu cầu.

Ông C và bà Đ được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Đối với con chung tên Hà Văn H, sinh năm 1994 đã trưởng thành, ông C và bà Đ không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Hà Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001430 ngày 25/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; như vậy ông C đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ