vanban.org

Bản án 57/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quốc Hội. Bà Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002427 ngày 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST
Ngày 02-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Tâm.

Ông Lê Văn Tuyển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thư ký Tòa án.

Ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1978.

- Bị đơn: Ông Lê Tâm T, sinh năm 1977.

Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phạm Thị Thu H và ông Lê Tâm T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 17/02/2000 tại Ủy ban nhân dân xã H huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Theo bà H trình bày: Quá trình vợ chồng chung sống, ông T thường xuyên uống rượu bia về nhà đánh, chửi mắng, xúc phạm bà Hà nhiều lần dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nhưng bà H cố gắng chung sống nuôi con. Cho đến thời gian gần đây, ông T lại có hành vi đánh bà H lúc đêm tối. Bà H trình bày luôn sống trong lo lắng nên đã bỏ nhà đi, cắt đứt quan hệ vợ chồng với ông T, hiện bà H không còn tình cảm không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết ly hôn. Về con chung: Bà H và ông T có hai người con chung tên là Lê Thanh T, sinh ngày 20/5/2002 và Lê Thị Thu T, sinh ngày 21/11/2000. Hiện các con đã trưởng thành có cuộc sống riêng ổn định nên không có yêu cầu gì. Bà H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Lê Tâm T thừa nhận lúc uống bia rượu về do say nên không kiềm chế được có lần đánh bà H. Ông T vẫn còn tình cảm và thấy có lỗi, mong bà H bỏ qua để vợ chồng đoàn tụ xây dựng gia đình, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H. Ông không yêu cầu giải quyết về con chung và tài sản chung.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị Thu H nộp đơn khởi kiện ngày 09/6/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Lê Tâm T có nơi cư trú tại xã H, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án.

Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà Phạm Thị Thu H và ông Lê Tâm T có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông T cũng thừa nhận bản thân có hành vi bạo lực gia đình với bà Hà. Xét hành vi bạo lực gia đình của ông T đã vi phạm điều cấm được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn ông Lê Tâm T.

Về con chung và tài sản chung: Bà H và ông T có hai người con chung tên là Lê Thanh T, sinh ngày 20/5/2002 và Lê Thị Thu T, sinh ngày 21/11/2000. Hiện các con đã trưởng thành có cuộc sống riêng ổn định, không ai có yêu cầu gì. Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn ông Lê Tâm T.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quốc Hội. Bà Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002427 ngày 09/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ