- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| `TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HNGĐ - ST Ngày: 25-8-2022 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thanh Phương
Bà Lê Thị Kim Xuyến
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến– Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 237/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/4/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 573/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 683/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số nhà 042, tổ 1, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: Số nhà 38, khóm 8, ấp 2, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tư Vương Quốc A, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số nhà 042, tổ 1, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Chị H và anh Quốc A vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2022 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Nguyễn Tư Vương Quốc A xây dựng gia đình với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24 tháng 8 năm 2007. Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quốc A. Nguyên nhân chị H yêu cầu ly hôn là do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.
Về con chung: Chị và anh Quốc A có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 29/02/2008. Nếu ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Quốc A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.
Về tài sản chung: Chị H khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị H khai không có.
Bị đơn anh Nguyễn Tư Vương Quốc A không đến Tòa án cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Quốc A. Về con chung: giao con chung cho chị H được quyền nuôi dưỡng, buộc anh Quốc A không cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ. Về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại biên bản xác minh ngày 14/6/2022 thể hiện anh Nguyễn Tư Vương Quốc A hiện đang cư trú tại số nhà 42 tổ 1, ấp H, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Tòa án đã triệu tập anh Quốc A hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Quốc A vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh Quốc A.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tư Vương Quốc A và chị Hồ Thị Mỹ H xây dựng gia đình với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 24/8/2007, việc kết hôn do cả hai đều tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị H xin ly hôn với anh Quốc A với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Xét thấy, qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh thì địa phương không xác định được nguyên nhân tranh chấp ly hôn giữa chị H và anh Quốc A. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh Quốc A biết để đến Tòa tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh Quốc A vẫn không đến Tòa mà không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải cho vợ chồng anh Quốc A và chị H đoàn tụ. Qua ý kiến của chị H thể hiện chị H và anh Quốc A chung sống không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Quốc A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị H và anh Quốc A có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 29/02/2008. Hiện nay cháu Nhật Anh do chị H đang nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Nhật A có nguyện vọng được sống chung với chị H và cần đảm bảo ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của cháu Nhật A nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Nhật A cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Anh Quốc A không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 107, 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chị H yêu cầu anh Quốc A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9 và Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của chị Hồ Thị Mỹ H đối với anh Nguyễn Tư Vương Quốc A.
Xử cho chị Hồ Thị Mỹ H được ly hôn với anh Nguyễn Tư Vương Quốc A.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 29/02/2008 cho chị Hồ Thị Mỹ H nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh Nguyễn Tư Vương Quốc A có nghĩa vụ cấp dưỡng con mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Thời hạn cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Nhật A đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Anh Nguyễn Tư Vương Quốc A được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007711 ngày 20 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - UBND xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |