- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Dung Hòa - Lê Văn Hoàng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung , |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Hoàng Sơn.
- Ông Vũ Xuân Thụ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2022/TLST - HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2022/QĐ-HPT, ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Dung H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số K54/26H L, Tổ 5, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã Ea Hiao, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc nguyên đơn chị Dương Thị Dung H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Dung H và anh Lê Văn H kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Hiao, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không cùng quan điểm sống, anh H không làm tròn trách nhiệm với gia đình. Mặc dù hai bên đã ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung, đã ly thân với nhau từ năm 2019. Nay nhận thấy không còn tình cảm với anh H nữa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
Về nuôi con chung: Chị H và anh H có với nhau 01 đứa con chung là Lê Gia K, sinh ngày 21/02/2017. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và các khoản nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn anh Lê Văn H vẫn vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh H về vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho chị H ly hôn với anh H; cần giao con chung là Lê Gia K cho chị Hòa trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu và anh H không có ý kiến cho Tòa án nên đề nghị không đề cập xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị Dương Thị Dung H và anh Lê Văn H là vợ chồng. Do mâu thuẫn trong quá trình chung sống, nên chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung với anh Lê Văn H và Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và anh H đã vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Chị Dương Thị Dung H và anh Lê Văn H kết hôn vào năm 2016, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Ea Hiao, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 13/6/2016. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do lối sống của hai người không còn phù hợp với nhau, từ giữa năm 2019 đến nay không còn chung sống với nhau nữa. Nay nhận thấy chị H và anh H không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai người. Vì vậy, để giải phóng sự ràng buộc giữa hai người cần cho chị H được ly hôn với anh Hoàng.
Về nuôi con chung: Chị H và anh H có với nhau 01 con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 21/02/2017. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K cho đến khi đủ 18 tuổi. Hiện nay, cháu K cũng đang ở với chị H. Vì vậy, để đảm bảo sự chăm sóc và phát triển về mọi mặt của con chung cũng như khả năng nuôi dạy con của cả hai người, cần giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đề cập, xem xét.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập, xem xét.
Về án phí dân sự: Cần buộc chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 70, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Dung H
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Dung H được ly hôn với anh Lê Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Gia K, sinh ngày 21/02/2017 cho chị Dương Thị Dung H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị Dung H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập, xem xét giải quyết. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Dương Thị Dung H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập, xem xét.
5. Về án phí dân sự: Chị Dương Thị Dung H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: 60AA/2021/0000845 ngày 05/5/2022.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thị Dung H và anh Lê Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; -UBND xã E, huyện E tỉnh Đắk Lắk (Số ĐKKH 62, ngày 13/6/2016); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Đăng Khoa |