vanban.org

Bản án 57/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Ch.

Về con chung: Giao 02 cháu Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017 cho chị Triệu Thị Ch được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hà Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triệu Thị Ch xin ly hôn với Hà Phúc T"
  • Tòa quyết gì? Về Hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HNGĐ - ST
Ngày 26/9/2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Tú

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng và ông Ma Văn Sơn

Thư ký Toà án: Ông Dương Văn Tến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Ch, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hà Phúc T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt lần 02, đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2022, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Triệu Thị Ch trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Triệu Thị Ch và anh Hà Phúc T qua tự nguyện tìm hiểu đã kết hôn vào năm 2011 đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 09/6/2011. Kết hôn xong vợ chồng chung sống ở thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Vào năm 2019 chị Ch đã làm đơn khởi kiện ly hôn nộp tại Tòa án nhân dân huyện C nhưng sau khi được hòa giải thì đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, vợ chồng vẫn tiếp tục mâu thuẫn và cho đến nay thì không thể hòa giải được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, anh T ham chơi, thường xuyên uống rượu, phá tán tài sản gia đình, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng xô xát, đánh đập nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Nay chị Ch xác định tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn anh Hà Phúc T.

- Về con chung: Có 02 con chung là Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017, khi ly hôn chị Ch đề nghị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Phúc T1 và nhất trí để anh T nuôi dưỡng cháu Hà Thị Th. Về cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, chị Ch không yêu cầu.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp việc kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải cho đến tại phiên tòa, bị đơn anh Hà Phúc T đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng).

Trước khi Tòa án mở phiên tòa, chị Triệu Thị Ch bổ sung lời khai: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về phần hôn nhân, về tài sản chung, nợ chung; Về phần con chung, chị Ch xác định do hiện nay anh T vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ địa chỉ cụ thể nên chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con là Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị Ch vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung nêu trên.

Tòa án đã tiến hành xác minh đối với bà Ma Thị B (là mẹ đẻ của anh T), Bà Nguyễn Thị Đ- Trưởng thôn Ng, xã X và Công an xã X, xác định anh Hà Phúc T có hộ khẩu thường trú tại thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, tuy nhiên thực tế hiện nay anh T đã đi làm ăn xa, không có mặt tại gia đình và địa phương, bà Bánh chỉ biết anh T làm việc tại thành phố Hà Nội và không biết cụ thể địa chỉ tạm trú cùng như khi nào anh T mới trở về gia đình, địa phương. Bà Bánh có nhận được văn bản của Tòa án nhân dân huyện C và cam kết thông báo cho anh Hà Phúc T biết về việc chị Triệu Thị Ch có đơn xin ly hôn (thông tin qua điện thoại di động cho anh T).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 143, 144, 147 các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2 016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Ch xử cho chị Triệu Thị Ch được ly hôn anh Hà Phúc T; về con chung: Giao các cháu Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017 cho chị Triệu Thị Ch được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Hà Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không đề nghị giải quyết, nên không đề cập xem xét; về nợ chung không đề nghị nên không đề cập xem xét. Về án phí: Chị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh T không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Triệu Thị Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Hà Phúc T; Anh Hà Phúc T có hộ khẩu thường trú tại thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.

Theo cung cấp của Công an xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang thì anh Hà Phúc T có hộ khẩu thường trú tại thôn Ng, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Anh T đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ anh T đang ở đâu, làm gì. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh T đến Tòa án để làm việc nhưng anh T vắng mặt không có lý do, anh T đã được thông báo nhưng vẫn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị Ch vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hà Phúc T vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Triệu Thị Ch và anh Hà Phúc T là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C. Sau khi kết hôn chị Ch và anh T chung sống tại thôn Ng, xã X được một thời gian, trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế gia đình, xảy ra nhiều cãi vã, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, anh T không quan tâm đến gia đình vợ con, thường xuyên uống rượu và phá tán tài sản gia đình, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không đạt kết quả nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, chị Ch xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và mâu thuẫn đã trầm trọng, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hà Phúc T.

Qua điều tra xác minh xác định thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ch và anh T Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại Biên bản xác minh ngày 23/8/2022 (BL 35, 36, 37) thấy rằng chị Ch và anh T đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay và kể từ khi ly thân, giữa anh chị không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa, do vậy giữa anh chị không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị Ch, cho chị Ch được ly hôn anh Hà Phúc T.

Về con chung: Quá trình sống chung giữa chị Ch và anh T có 02 con chung là Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017, chị Ch có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Anh T không có mặt tại gia đình và địa phương, đồng thời cũng không có văn bản gửi đến Tòa án thể hiện quan điểm ý kiến về quyền nuôi dưỡng con, hiện nay anh T cũng không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con; Chị Ch đang làm công nhân của Công ty TNHH FUSHAN TECHNOLOGY, địa chỉ: Số 8, đường 6 khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh, phường Phú Chấn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tổng thu nhập lương + phụ cấp là 8.000.000đ (tám triệu đồng) một tháng với mức thu nhập này có thể đảm bảo về việc trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn. Nguyện vọng của cháu Hà Phúc T1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao 02 cháu Hà Phúc T1 và Hà Thị Th cho chị Triệu Thị Ch được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chị Triệu Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Hà Phúc T không phải chịu án phí.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 147; các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về Hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị Ch. Xử cho chị Triệu Thị Ch được ly hôn anh Hà Phúc T.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Hà Phúc T1, sinh ngày 26/01/2011 và Hà Thị Th, sinh ngày 29/6/2017 cho chị Triệu Thị Ch được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hà Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.

Nếu cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Triệu Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chị Ch đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo biên lai số 0005377 ngày 05/8/2022 nay được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm ly hôn (chị Ch đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ