- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liêu Thị N ly hôn Nguyễn Linh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Liêu Thị N đối với ông Nguyễn Linh P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HNGĐ – ST Ngày: 08-7-2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên;
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Thùy;
Ông Nguyễn Thành Công;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2022/TLST -HNGĐ, ngày 18/4/2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXX - ST ngày 7/6/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Liêu Thị N, sinh năm 1979;
Bị đơn: Ông Nguyễn Linh P, sinh năm 1974;
Cùng địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
(Bà N có mặt, ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của nguyên đơn- bà Liêu Thị N cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nội dung vụ án như sau:
Vào năm 2008 bà N và ông Nguyễn Linh P tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau, có thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Lộc, huyện C, tỉnh Long An, theo giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số 01 ngày 22 tháng 2 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cha mẹ chồng vì ông P là con út, kế đó vợ chồng thuê nhà trọ sinh sống riêng. Quá trình chung sống được 17 năm nhưng chỉ hạnh phúc giai đoạn đầu đầu, thời gian sau ông P đi làm xa nghề trọng tài bóng đá, thường xuyên vắng nhà, không chung thủy với bà cố mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Từ đó ông P bỏ bê gia đình không có trách nhiệm gì đến con cái, mọi việc gia đình nuôi con ăn học do bản thân bà phải vất vã làm thuê phụ hồ nuôi con ăn học. Giữa bà và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể cứu vãn, cả hai chính thức sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai, thời gian vợ chồng xa nhau 01-02 tháng ông P có về thăm con giây lát rồi đi chứ vợ chồng không giàn xếp hàn gắn được. Hiện nay bà N xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Linh P.
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Khánh Linh, sinh năm 2013 và Nguyễn Khánh Vinh, sinh năm 2018 hiện do bà đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà không yêu cầu xem xét.
Bị đơn Ông Nguyễn Linh P đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng ông P vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà N. Tòa án cũng đã giao giấy triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hai lần nhưng ông P vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nơi cư trú bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Linh P được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Linh P.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà Liêu Thị N và ông Nguyễn Linh P được xác lập vào năm 2008, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Hai ông bà có quá trình 17 năm chung sống đảm bảo hạnh phúc giai đoạn đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn theo bà N cho rằng do ông P đi làm ăn xa không chung thủy với bà cố mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Từ đó, ông P không có trách nhiệm gì đến gia đình bỏ mặt con cái không quan tâm lo lắng, dần tình cảm vợ chồng rạn nức cả hai sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không giàn xếp hàn gắn được. Vì vậy, bà N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với ông P. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự đến Tòa án hòa giải nhưng ông P không đến và cũng không có ý kiến phản hồi về việc xin ly hôn của bà N đối với ông. Tại phiên tòa bà N vẫn bảo lưu quan điểm xin ly hôn với ông P.
Hội đồng xét xử xét thấy ông P đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Liêu Thị N đối với ông Nguyễn Linh P.
Về con chung: Bà N và ông P có với nhau 02 con chung là Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 25 tháng 10 năm năm 2013 và Nguyễn Khánh Vinh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2018, hiện đang sống với bà N. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà N yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con. Xét yêu cầu của bà N là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bà N xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: Bà Liêu Thị N là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86 của Luật nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Liêu Thị N đối với ông Nguyễn Linh P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Liêu Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Linh P.
2. Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên là Nguyễn Khánh Linh, sinh ngày 25 tháng 10 năm năm 2013 và Nguyễn Khánh Vinh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2018 cho bà Liêu Thị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Linh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí: Bà Liêu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân. Tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo phiếu thu số 0013312 ngày 12 tháng 4 năm 2022 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An chuyển sang án phí sung vào công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Liêu Thị N có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Linh P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh; - VKSND huyện C; - CC.THADS huyện C; - UBND xã ML; - Đương sự; - Lưu./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Liên |