- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HSST Ngày 06-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Viết Tú
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lâm
Ông Trần Đình Nhiễm
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 06 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1972 tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Cư trú: Khu 2, xã S, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12. Bố: Nguyễn Văn P (Đã chết); Mẹ: Trần Thị C – Sinh năm 1927. Hiện ở khu 1, xã S, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Nguyễn Thị T – Sinh năm 1973. Hiện ở khu 2, xã S, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ; Con: Có 05 con (Lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2012); Anh chị em ruột: Có 06 anh em, Bị cáo là thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Khu 3, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
+ Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Khu 3, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
+ Anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
+ Ông Nguyễn Bá D, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 12/6/2021, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1972, trú tại Khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề, Công an huyện Thanh Thủy phối hợp với Công an xã S đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với nơi ở của Nguyễn Văn Đ. Tại thời điểm kiểm tra, Nguyễn Văn Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 02 tờ giấy (01 tờ có dòng kẻ, có ghi chữ và số, 01 tờ được kẻ ô có nhiều chữ số tự nhiên được đánh máy và viết bằng mực đen), Đích khai đó là 02 “bảng đề” gồm các số lô, số đề Đích bán cho một số người vào ngày 12/6/2021. Ngoài ra, Nguyễn Văn Đ còn giao nộp 01 chiếc bút nước vỏ màu đen, mực màu đen, 01 chiếc bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đỏ, 01 chiếc điện thoại Iphone 7 màu vàng đã cũ, số IMEI 352985093638076, bên trong lắp sim số 0346.339.795, 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim số 0984.918.011. Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn Đ, Cơ quan Công an thu giữ trong ngăn tủ gỗ kê tại phòng khách số tiền 2.900.000đ. Cơ Quan Công an sau đó đã mời Nguyễn Văn Đ đến trụ sở Công an huyện để làm rõ nội dung vụ việc.
Tại Cơ quan điều tra, nội dung vụ việc được làm rõ như sau:
Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1972, trú tại Khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ ghi xổ số, lô tô Nhà nước. Nhưng do muốn có thêm thu nhập nên Đích đã nhận làm thư ký ghi số lô, số đề cho Nguyễn Tất T2 – sinh năm 1984, ở khu 2 xã S, huyện Thanh Thủy để hưởng lợi từ tiền chênh lệch và chiết khấu %. Theo đó, Đích căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày thực hiện hành vi bán số lô, số đề xác định thắng thua bằng tiền cho những người mua. Để thực hiện hành vi của mình, Đích đã trực tiếp đứng ra bán các số lô, số đề cho những người mua rồi tổng hợp các số lô, số đề cùng số tiền mua tương ứng và tên người mua vào bảng đề để làm căn cứ xác định thắng thua và trả thưởng sau khi có kết quả mở thưởng xổ số trong ngày. Ngoài ra, Đích còn tổng hợp thêm 01 “bảng lô đề” nữa (chỉ gồm các số lô, số đề chứ không có tên người mua) rồi trực tiếp mang đến nhà Thắng để nộp cho Thắng. Về cách thức đánh bạc, Đích và người mua số lô, số đề của Đích thỏa thuận như sau:
Đích và những người mua số lô, số đề sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc hàng ngày để làm cơ sở xác định thắng thua. Số tiền mua các số lô, số đề cũng như tiền thắng thua sẽ được Đích và người mua thanh toán sau khi đã có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc của ngày hôm đó. Về số đề, người chơi có thể mua của Đích một hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 với số tiền tùy ý cho mỗi số. Các số này sau đó sẽ được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày hôm đó. Nếu số đề người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người chơi đó là người thắng cuộc và Đích phải trả cho người đó số tiền bằng 70 lần số tiền họ đã bỏ ra để mua số đề trúng thưởng. Ngược lại, nếu số đề người chơi đã mua không trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người đó sẽ là người thua cuộc và phải mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số đề đó cho Đích. Trong số đề có quy ước bóng: 0 bóng 5; 1 bóng 6; 2 bóng 7; 3 bóng 8; 4 bóng 9. Ngoài cách chọn từng số riêng lẻ để mua, người chơi có thể mua các số theo bộ: Dây, tổng, đầu, đuôi, kép, vương. Bộ “dây” là 1 bộ gồm 08 số trong các cặp bóng. Ví dụ: Dây 01 bao gồm 08 số trong bộ 0 bóng 5; 1 bóng 6 là 01; 10; 06; 60; 15; 51; 56; 65. Bộ “tổng” gồm các số khi cộng hai chữ số của số đó lại thì ra số tổng người chơi đã chọn hoặc chữ số cuối của tổng hai chữ số là số tổng người chơi đã chọn. Ví dụ: Tổng 1 gồm các số: 01; 10; 29; 92; 38; 83; 47; 74; 56; 65. Bộ “đầu” bao gồm tất cả các số có chữ số đầu trùng với số người chơi đã chọn. Ví dụ: Đầu 0 gồm các số: 00; 01; 02; 03... đến 09. Bộ “đuôi” gồm tất cả các số đề có chữ số thứ 2 trùng với số đuôi người chơi đã chọn. Ví dụ: Đuôi 9 gồm các số: 09; 19; 29...99. Bộ “kép” gồm có kép lệch và kép bằng. Kép bằng gồm 10 số có hai chữ số giống nhau: từ 00 đến 99. Kép lệch gồm số có hai chữ số là bóng của nhau ví dụ: 05; 50; 16; 61... Bộ “vương” là bộ gồm các số đề mà trong mỗi số đề sẽ có một hoặc hai số tự nhiên trùng với số khách mua, ví dụ vương 1 gồm các số đề: 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19....
Về số lô, tương tự như số đề, người chơi cũng có thể mua của Đích một hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 nhưng mỗi số sẽ mua theo điểm. Người mua có thể mua không giới hạn điểm cho mỗi số lô, mỗi điểm được quy đổi ra số tiền tương ứng là 23.000đ. Các số này sau đó được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối của tất cả 27 giải được Công ty xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu số lô người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của một trong 27 giải của kết quả mở thưởng xổ số thì người chơi đó là người thắng cuộc và Đích phải trả cho người đó số tiền tương ứng với số điểm người đó đã bỏ ra mua số lô đã trúng thưởng là 80.000đ/01 điểm. Nếu số lô người chơi đã mua không trùng với hai chữ số cuối của bất kì giải nào trong 27 giải của kết quả mở thưởng xổ số thì người mua là người thua cuộc và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô đó cho Đích.
Chiều ngày 12/6/2021, tại nhà ở của mình ở khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, Nguyễn Văn Đ đã bán số lô, số đề cho một số đối tượng. Cụ thể như sau:
1. Đích bán cho Vũ Văn K – Sinh năm 1988, trú tại khu 8, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ số lô 68 = 40 điểm, tương ứng với số tiền 920.000đ. Khởi đã thanh toán đủ số tiền trên cho Đích.
2. Đích bán cho Nguyễn Quốc H – Sinh năm 1993, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề 02, 20, 08, 80, 04, 40, 28, 82 mỗi số 10.000đ; các số đề 46, 64, 26, 62, 24, 42 mỗi số 5000đ; dây 02 = 80.000đ; dây 12 = 40.000đ. Tổng số tiền Hợp mua các số đề là 230.000đ. Sau khi được triết khấu 30.000đ, Hợp đã trả cho Đích số tiền 200.000đ.
3. Đích bán cho Nguyễn Ngọc Y – Sinh năm 1975, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số lô 24 = 10 điểm; số đề 26 = 24.000đ. Tổng số tiền Yêm mua các số lô, số đề của Đích là 254.000đ. Đích triết khấu cho Yên 4.000đ tiền đề, Yêm đã trả cho Đích số tiền 250.000đ.
4. Đích bán cho Nguyễn Ngọc K1 – Sinh năm 1980, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tinh Phú Thọ các số lô 12, 01, 45 mỗi số 3 điểm; số đề đầu 0 = 100.000đ; các số đề 03, 04 mỗi số 5.000đ. Tổng số tiền Khiêm mua các số lô, số đề của Đích là 317.000đ. Đích triết khấu cho Khiêm 27.000đ, Khiêm đã trả đủ số tiền 290.000đ cho Đích. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc trong ngày, Khiêm trúng số lô 01 với số điểm trúng là 6 điểm tương ứng với số tiền 480.000đ, Đích chưa trả thưởng cho Khiêm.
5. Đích bán cho Đặng Văn T1 – Sinh năm 1992, trú tại khu 3, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ số lô 58 = 4 điểm, tương ứng với số tiền 92.000đ. Tuấn chưa thanh toán số tiền trên cho Đích.
6. Đích bán cho Nguyễn Tiến L – Sinh năm 1973, trú tại khu 3, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề 03, 36, 38 mỗi số 20.000đ. Tổng số tiền Lành mua các số đề của Đích là 60.000đ. Đích chiết khấu cho Thành 10.000đ tiền đề, số tiền phải thanh toán là 50.000đ thì Lành chưa thanh toán cho Đích.
7. Đích bán cho Đặng Văn Đ1 – Sinh năm 1987, trú tại khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tinh Phú Thọ các số đề 12, 21, 27, 72, 23, 32, 28, 82, 26, 62 mỗi số 30.000đ; số đề 00 = 60.000đ. Tổng số tiền Đinh mua các số đề của Đích là 360.000đ. Đích chiết khấu cho Đinh 60.000đ, Đinh đã trả cho Đích 200.000đ, nợ lại 100.000đ chưa thanh toán.
8. Đích bán cho Đinh Thị M – Sinh năm 1950, trú tại khu 4, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề “đầu” 3=50.000đ; “đít” 3=50.000đ; tổng 26=100.000đ; các số đề 11, 66, 06, 60, 33, 88, 39, 93 mỗi số 5.000đ. Tổng số tiền Minh mua các số đề của Đích là 240.000đ. Đích chiết khấu cho Minh 40.000đ và Minh đã thanh toán đủ cho Đích số tiền 200.000đ. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc trong ngày, Minh trúng số đề 83 = 5.000đ tương ứng với số tiền 350.000đ.
9. Đích bán cho Nguyễn Bá D – Sinh năm 1960, trú tại khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề 08, 80, 18, 15, 17, 65, 67, 53 mỗi số 10.000đ; các số đề dây 02 = 40.000đ; số đề ba càng 215 = 10.000đ; các số đề ba càng 217, 267, 265 mỗi số 20.000đ; các số lô 68, 95 mỗi số 5 điểm. Tổng số tiền Dương mua các số lô, số đề của Đích là 420.000đ. Đích chiết khấu cho Dương 40.000đ tiền đề, Dương đã trả cho Đích 370.000đ, còn nợ lại 10.000đ.
10. Đích bán cho Nguyễn Văn T4 – Sinh năm 1971, trú tại khu 3, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề “đầu” 2 = 200.000đ, “đít” 2 = 200.000đ; số đề 32=170.000đ, số đề 23= 50.000đ. Tổng số tiền Tuyển mua các số lô, số đề của Đích là 620.000đ, Đích triết khấu cho Tuyển 120.000đ tiền đề, Tuyển đã trả đủ cho Đích 500.000đ.
11. Đích bán cho Nguyễn Văn S – Sinh năm 1964, trú tại khu 15, xóm Ấp, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ các số đề 91 = 50.000đ; số đề ba càng 291 = 10.000đ. Tổng số tiền Sàng mua các số đề của Đích là 60.000 đồng, Đích triết khấu cho Sàng 10.000đ tiền đề, Sàng đã trả đủ cho Đích 50.000đ.
12. Đích bán cho người đàn ông tên Suyến (bố là Đại) ở xã Cự Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ các số đề “chẵn lẻ” = 750.000đ, lẻ chẵn = 750.000đ, số lô 87 = 50 điểm, các số đề dây 02 = 300.000đ, số đề 25 = 50.000đ, các số đề dây 23 = 160.000đ, các số đề 31, 36, 32, 51 mỗi số 50.000đ, các số đề “đầu” 3=240.000đ. Tổng số tiền Suyến mua các số lô, số đề của Đích là 3.600.000đ, Đích chiết khấu cho Suyến 620.000đ tiền đề, Suyến còn phải trả cho Đích số tiền 2.980.000đ. Suyến đã trả cho Đích số tiền 1.980.000đ và còn nợ lại Đích số tiền 1.000.000đ. So sánh với kết quả xổ số miền Bắc trong ngày, Suyến trúng số đề 83 = 30.000đ tương ứng với số tiền 2.100.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã tiến hành xác minh tại Công an xã Cự Đồng nhưng không xác định được người có thông tin như trên để xử lý theo quy định.
13. Đích bán cho Nguyễn Văn T4 – Sinh năm 1998, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ số đề 12 = 100.000đ; số đề 21 = 270.000đ. Tổng số tiền Thái mua các số đề của Đích là 370.000đ, Đích chiết khấu cho Thái 100.000đ tiền đề, còn 270.000đ thì Thái đã thanh toán đủ cho Đích.
14. Đích bán cho Đinh Ngọc K2 – Sinh năm 1966, trú tại khu 4, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề dây 13 = 40.000đ; các số đề 58, 85, 53, 35, 88, 33, 93, 39, 06, 60, 11, 66 mỗi số 10.000đ; các số lô 33, 88 mỗi số 5 điểm. Tổng số tiền Khôi mua các số lô, số đề của Đích là 390.000đ. Đích chiết khấu cho Khôi 40.000đ tiền đề, còn lại 350.000đ Khôi đã trả đủ cho Đích.
15. Đích bán cho Lê Văn Đ2 – Sinh năm 1954, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề 05, 25, 65, 85, 07, 27, 47, 67, 87 mỗi số 60.000đ. Tổng số tiền Đồng mua các số lô, số đề của Đồng là 540.000đ, Đích chiết khấu cho Đồng 40.000đ, còn lại 500.000đ thì Đồng đã thanh toán đủ cho Đích.
16. Đích bán cho Hoàng Văn N – Sinh năm 1980, trú tại khu 1, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ các số đề “đít” 4 = 60.000đ, “đít” 6 = 60.000đ. Tổng số tiền Nhân mua các số đề của Đích là 120.000đ. Đích chiết khấu cho Nhân 20.000đ, còn lại 100.000đ thì Nhân đã trả đủ cho Đích.
Tổng số tiền Đích bán số lô số đề cho 16 người mua trong ngày 12/6/2021 là 8.593.000đ. Sau khi bán số lô, số đề cho khách thì Đích ghi các số lô, số đề người chơi đã mua cùng với tên của từng người vào 01 tờ giấy dòng kẻ ngang nhãn hiệu “Hải Tiến” đề làm căn cứ xác định thắng thua. Ngoài ra, Đích còn sao chép các số lô, số đề khách mua và số lô, số đề Đích định mua thêm vào 01 tờ giấy khổ A4 với mục đích để chuyển cho Nguyễn Tất T2 . Tuy nhiên, do thấy Thắng chậm trả thưởng cho khách nên ngày 12/6/2021, Đích không chuyển bảng cho Thắng nữa mà giữ lại các số lô, số đề khách mua để tự mình thanh toán với khách. Còn các số lô, số đề Đích muốn mua, do không chuyên bảng đề cho Thắng nên Đích cũng không mua nữa.
Về số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc trong vụ án được xác định như sau: Trong ngày 12/6/2021, hành vi mua bán các số lô, số đề của các đối tượng bị phát hiện sau khi đã có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày nên xác định số tiền Nguyễn Văn Đ sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng tổng số tiền Đích bán các số lô, số đề cho khách cộng với số tiền khách trúng thưởng, còn số tiền những người chơi sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng tổng số tiền người chơi đó bỏ ra để mua các số lô, số đề của Đích cộng với số tiền người chơi đó trúng thưởng. Do đó, xác định số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là: Nguyễn Văn Đ 11.523.000đ, Vũ Văn K 920.000đ, Đặng Văn Đ1 360.000đ, Nguyễn Quốc H 230.000đ, Nguyễn Ngọc Yên 254.000đ, Nguyễn Ngọc K1 797.000đ, Đặng Văn T1 92.000đ, Nguyễn Tiến L 60.000đ, Đinh Thị M 590.000đ, Nguyễn Bá D 420.000đ, Nguyễn Văn T4 620.000đ, Nguyễn Văn S 60.000đ, Nguyễn Văn T4 370.000đ, Đinh Ngọc K2 390.000đ, Lê Văn Đ2 540.000đ, Hoàng Văn N 120.000đ và người nam giới tên Suyến (bố là Đại) ở xã Cự Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 5.700.000đ.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Đ trước ngày 12/6/2021, do hàng ngày sau khi có kết quả mở thưởng và so sánh thắng thua với người mua xong thì Đích đã hủy hết các giấy tờ liên quan đến việc mua bán số lô, số đề của ngày hôm đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ về số tiền cũng như những người đã mua số lô, số đề của Đích để xử lý theo quy định của pháp luật,
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được và hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ, ngày 15/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Thủy đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố Bị cáo đối với Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với Vũ Văn K, Đặng Văn Đ1, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Ngọc K1, Đặng Văn T1, Nguyễn Tiến L, Đinh Thị M, Nguyễn Bá D, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T4, Đinh Ngọc K2, Lê Văn Đ2 và Hoàng Văn N, là những người đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số lô, số đề của Nguyễn Văn Đ trong ngày 12/6/2021 với số tiền đánh bạc của từng người lần lượt là 920.000đ, 360.000đ, 230.000đ, 254.000đ, 797.000đ, 92.000đ, 60.000đ, 590.000đ, 420.000đ, 620.000đ, 60.000đ, 370.000đ, 390.000đ, 540.000đ và 120.000đ. Do số tiền của từng đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa đến mức xử lý về hình sự, bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc và tổ chức đánh bạc. Do đó, Công an huyện Thanh Thủy đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên.
Đối với Nguyễn Tất T2, theo lời khai của Đích là người đã nhận bảng đề do Đích chuyển vào thời điểm trước ngày 12/6/2021. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không có căn cứ chứng minh hành vi đánh bạc của Đích trước ngày 12/6/2021. Mặt khác, tại Cơ quan điều tra, Thắng không thừa có liên quan đến việc mua bán số lô, số đề của Đích. Ngoài lời khai của Đích thì không có chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với người nam giới tên Suyến (bố là Đại) ở xã Cự Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ theo lời khai của Đích. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an xã Cự Đồng nhưng không có người có thông tin như trên nên không có căn cứ làm rõ và xử lý.
Số tiền 2.900.000đ Cơ quan Công an thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Văn Đ, Đích khai nhận số tiền trên là tiền đích bán số lô, số đề cho khách ngày 12/6/2021 mà có.Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến L giao nộp 50.000đ, Đặng Văn Đ1 giao nộp 100.000đ, Đặng Văn T1 giao nộp 92.000đ, Nguyễn Bá D giao nộp 10.000đ cho cơ quan điều tra. Còn những người mua khác đã trả đủ cho bị cáo Đích.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSTT ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Căn cứ: Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51, Khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 3, Điều 321 BLHS.
* Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.152.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng)của bị cáo và các đối tượng tham gia đánh bạc.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 8.371.000đ (Tám triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 chiếc điện thoại Iphone 7 màu vàng, đã cũ lắp sim số 0346.339.795 số thẻ sim 8984048000065466388 và 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh, đã cũ lắp sim số 0984.918.011 số thẻ sim 8984048000054002313.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc bút nước vỏ màu đen, mực màu đen và 01 chiếc bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đỏ của bị cáo Đích.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt họ. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định tại Điều 292 của BLTTHS.
2. Về nội dung vụ án:
[1] Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 12/6/2021, tại nhà ở của mình ở khu 2, xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề xác định thắng thua bằng tiền cho Vũ Văn K, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Ngọc K1, Đặng Văn T1, Nguyễn Tiến L, Đặng Văn Đ1, Đinh Thị M, Nguyễn Bá D, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T4, Đinh Ngọc K2, Lê Văn Đ2, Hoàng Văn N và một người nam giới tên Suyến (bố là Đại) ở xã Cự Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với tổng số tiền là 11.523.000đ. Hành vi của bị cáo Đích đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế gia đình, là nguồn gốc phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Do vậy cần phải xét xử nghiêm minh đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại Điểm i, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Từ sự phân tích trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật. HĐXX thấy rằng, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng; bản thân bị cáo sức khỏe yếu bị cắt 2,2m ruột, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Do đó HĐXX thấy rằng không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thế hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321BLHS, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng. Qua xác minh của cơ quan Điều tra thể hiện bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị lớn. Do đó Hội đồng xét xử cần miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Đích là phù hợp.
Về vật chứng:
Đối với số tiền 3.152.000đ (gồm 2.900.000đ của thu của Đích và những người còn nợ Đích tiền đánh bạc đã giao nộp là Nguyễn Tiến L giao nộp 50.000đ, Đặng Văn Đ1 giao nộp 100.000đ, Đặng Văn T1 giao nộp 92.000đ, Nguyễn Bá D giao nộp 10.000đ), là tiền các bị cáo phạm tội cần tịch thu để sung vào Ngân sách nhà nước.
Số tiền còn lại bị cáo Đích thu được từ việc Đánh bạc 8.371.000đ chưa được thu hồi cần truy thu của bị cáo để sung Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 7 màu vàng đã cũ, số IMEI 352985093638076, bên trong lắp sim số 0346.339.795 số thẻ sim 8984048000065466388 và 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim số 0984.918.011 số thẻ sim 8984048000054002313 là điện thoại Đích không sử dụng vào việc đánh bạc, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 chiếc bút nước vỏ màu đen, mực màu đen và 01 chiếc bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đỏ của bị cáo không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với Vũ Văn K, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Ngọc K1, Đặng Văn T1, Nguyễn Tiến L, Đặng Văn Đ1, Đinh Thị M, Nguyễn Bá D, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T4, Đinh Ngọc K2, Lê Văn Đ2, Hoàng Văn N Ngày là các đối tượng đã có hành vi mua số lô, số đề của Đích vào ngày 12/6/2021. Tuy nhiên, số tiền của từng người sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa đến mức xử lý về hình sự, bản thân các đối tượng không có tiền án, tiền sự. Nên Công an huyện Thanh Thuỷ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi Đánh bạc là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với một người nam giới tên Suyến (bố là Đại) ở xã Cự Đồng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ là người Đích khai đã bán số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc là 5.700.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã tiến hành xác minh tại Công an xã Cự Đồng nhưng không xác định được người có thông tin như trên, do vậy không có căn cứ xử lý với người ngày.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, 2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn Đ 18(mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36(ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 3, Điều 321 BLHS.
* Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.152.000đ (Ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn đồng). Trong đó của bị cáo Nguyễn Văn Đ là 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng), của anh Nguyễn Tiến L 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), của anh Đặng Văn Đ1 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), của anh Đặng Văn T1 92.000đ (Chín mươi hai nghìn đồng), của ông Nguyễn Bá D 10.000đ (Mười nghìn đồng).
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 8.371.000đ (Tám triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 chiếc điện thoại Iphone 7 màu vàng, đã cũ lắp sim số 0346.339.795 số thẻ sim 8984048000065466388 và 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh, đã cũ lắp sim số 0984.918.011 số thẻ sim 8984048000054002313.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc bút nước vỏ màu đen, mực màu đen và 01 chiếc bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đỏ của bị cáo Đích;
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2021.
* Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày; kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình tính từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND H.Thanh Thuỷ, - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CA huyện Thanh Thuỷ; - CQ THAHS; - UBND xã S (TB); - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lương Viết Tú |