- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Vinh - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HS-ST Ngày 20-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Quang Hưng và ông Lê Xuân
Nghiêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Vy Thị Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
58/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 60/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:
Vi Văn V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1996 tại huyện
Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn D, xã
S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:
9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con
ông Vi Văn K, sinh năm 1970 và bà Lý Thị C, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có;
tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị
xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo đang bị tạm giam từ
ngày 09-3-2021 tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đến
nay; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Tuấn K,
sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Hoàng Minh T, sinh năm 1986; vắng mặt.
2. Hoàng Văn C, sinh năm 1995; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vi Văn V là người sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine (còn
gọi là ma túy đá). Để có ma túy sử dụng cho bản thân Vi Văn V thường xuống thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua ma túy về sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian tháng 3 năm 2021, Vi Văn V đã có hành vi Mua bán bán trái phép chất ma túy như sau:
Tối ngày 06-3-2021, Nguyễn Tuấn K đến gặp Vi Văn V hỏi mua 300.000
đồng ma túy, Vi Văn V bảo đưa tiền trước cho Vi Văn V và sẽ đưa ma túy sau, Nguyễn Tuấn K đã đưa tiền cho Vi Văn V, một lúc sau Vi Văn V hẹn Nguyễn Tuấn K đến phòng trọ tại ngõ 71, đường Xương Giang, khu Tân Hòa, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn lấy ma túy, khi đến nơi Vi Văn V đưa cho Nguyễn Tuấn K 01 gói ma túy, Nguyễn Tuấn K đã sử dụng luôn tại đó.
Tối ngày 08-3-2021, Hoàng Minh T gọi điện cho Vi Văn V hỏi mua
150.000 đồng tiền ma túy, khi đó Vi Văn V đang có số ma túy trị giá 200.000 đồng nên đồng ý và hẹn Hoàng Minh T đến ngõ vào nhà Vi Văn V. Sau đó Vi Văn V cho số ma túy vào coóng, một lúc sau Hoàng Minh T đến đưa cho Vi Văn V 150.000 đồng, cầm tiền xong Vi Văn V đưa coóng đựng ma túy cho Hoàng Minh T sử dụng số ma túy tương đương với 150.000 đồng, số ma túy còn lại Vi Văn V sử dụng hết.
Khoảng 14 giờ ngày 09-3-2021, Nguyễn Tuấn K đang hát karaoke tại
quán ở thôn Xóm Chùa, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã nhắn tin qua facebook cho Vi Văn V hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, Vi Văn V trả lời chỉ còn gói 300.000 đồng nếu lấy Vi Văn V đưa trước, số còn lại sẽ đưa sau, nhưng phải đưa cho Vi Văn V 550.000 đồng do Vi Văn V đi xe ôm, Nguyễn Tuấn K đồng ý. Sau đó Vi Văn V bảo anh Hoàng Văn C làm nghề xe ôm đưa Vi Văn V đến thôn Chùa, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi Vi Văn V đến đoạn đường trước cửa quán hát đưa cho Nguyễn Tuấn K 01 túi nilon bên trong đựng ma túy và nhận 550.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ của Nguyễn Tuấn K 01 túi nilon màu
trắng miệng kẹp dính, kích thước 02 cm x 02 cm trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO màu vàng đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 63433. Thu giữ của Vi Văn V 700.000 đồng và 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 54655.
Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối
với chỗ ở của Vi Văn V phát hiện thu giữ: 01 nắp nhựa màu đỏ đục hai lỗ thủng, 01 lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 coóng thủy tinh, 01 túi nilon miệng kẹp dính kích thước 02 cm x 02 cm.
Tại Kết luận giám định số: 114/KL-PC09 ngày 11-3-2021 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi ni lông thu giữ của Nguyễn Tuấn K là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,040 gam (đã trừ bì). Tại Kết luận giám định
số: 174/KLGĐ-PC09 ngày 15-3-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Lạng Sơn, kết luận: Số tiền 700.000 đồng thu giữ của Vi Văn V là tiền thật.
Tại Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS, ngày 31 tháng 8 năm 2021 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vi Văn V về
tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251
của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà bị cáo Vi Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như nội dung đã nêu ở trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Tuấn K, vắng
mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ thể hiện: Nguyễn Tuấn K đang hát
karaoke tại quán thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã nhắn tin qua facebook
cho Vi Văn V hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, Vi Văn V trả lời chỉ còn gói
300.000 đồng nếu lấy Vi Văn V đưa trước, số còn lại sẽ đưa sau, nhưng phải đưa
cho Vi Văn V 550.000 đồng do Vi Văn V đi xe ôm, Nguyễn Tuấn K đồng ý.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày Vi Văn V đến trước cửa quán hát đưa cho
Nguyễn Tuấn K 01 túi nilon bên trong đựng ma túy và nhận 550.000 đồng thì bị
lực lượng Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang thu giữ số ma
túy và 01 điện thoại di động. Nguyễn Tuấn K đã bị Công an huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 21-7-2021về
hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Những người làm chứng: Hoàng Minh T, Hoàng Văn C vắng mặt tại
phiên tòa. Lời khai trong hồ sơ thể hiện Hoàng Minh T có được mua ma túy với
Vi Văn V 01 lần với số tiền 150.000 đồng tại nhà Vi Văn V, sau khi mua xong
Hoàng Minh T đã sử dụng luôn, Hoàng Minh T đã bị Công an huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 21-7-2021 về
hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với Hoàng Văn C là người lái xe ôm
khi đưa Vi Văn V đi Hoàng Văn C không biết việc Vi Văn V đi bán ma túy
nhưng khi đến nơi đứng ở xa có được nhìn thấy hai người giao dịch và đưa tiền
cho nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tại phiên
tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Vi Văn V về tội Mua bán
trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251;
điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ
07 (bẩy) năm tù đề 08 (tám) năm tù; đề nghị truy thu số tiền bán ma túy của bị cáo
Vi Văn V là 450.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị
cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Về xử lý vật
chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2
Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01
(một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy
Methamphetamine hoàn trả sau giám định; 01 nắp nhựa màu đỏ đục hai lỗ
thủng, 01 lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 coóng thủy tinh, 01 túi
nilon miệng kẹp dính kích thước 02 cm x 02 cm. Tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước số tiền 550.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO màu vàng đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 63433; 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 54655. Đề nghị tuyên trả cho bị cáo Vi Văn V số tiền 150.000 đồng xác định không dùng vào việc phạm tội (nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy lỗi lầm của bản thân, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm cải tạo trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Nguyễn Tuấn K, người làm chứng Hoàng Minh T, Hoàng Văn C hồ sơ thể hiện họ đã có lời khai, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo Vi Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời
khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Vi Văn V là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vi Văn V thường xuống thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua ma túy. Do muốn kiếm tiền để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân. Từ ngày 06-3-2021, Vi Văn V đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tuấn K 01 lần, ngày 08-3-2021 bán cho Hoàng Minh T 01 lần. Hồi 15 giờ 30 phút ngày 09-3-2021 tại thôn Xóm Chùa, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn khi Vi Văn V đang thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tuấn K thì bị Công an huyện Hữu Lũng bắt quả tang, thu giữ 0,040 gam ma túy Methamphetamine cùng các vật chứng có liên quan. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo Vi Văn V về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị
an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất
gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây
thiệt hại về kinh tế. Ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ
nạn trong xã hội. Bị cáo là người có đủ độ tuổi, năng lực hành vi, năng lực trách
nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi
phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy và quy định của Nhà nước về quản lý,
sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội
của bị cáo cần được xử lý nghiêm trước pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị
cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân không tốt, là đối
tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều
tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình
được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Để giáo dục bị cáo trở thành người có ích, cần phải cách ly bị cáo ra
khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ thời gian để bị cáo cải
tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, qua đó làm gương
cho những người khác có ý định phạm tội tương tự. Tuy nhiên, cũng cần xem
xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của
pháp luật mà yên tâm cải tạo cho tốt.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại
phiên tòa thể hiện: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có
thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với số tiền Vi Văn V thực hiện bán ma túy ngày 06 và ngày 08-3-
2021, qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa đã làm rõ tổng số tiền bị cáo Vi Văn
V bán ma túy là 450.000 đồng đây là số tiền phạm tội, cần truy thu nộp ngân
sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì đã thư được niêm phong
dán kín bên trong đựng mẫu vật chất ma túy Methamphetamine hoàn trả sau
giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 nắp nhựa màu đỏ đục hai lỗ thủng,
01 lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 coóng thủy tinh, 01 túi nilon
miệng kẹp dính kích thước 02 cm x 02 cm là vật sử dụng vào việc phạm tội cần
tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 550.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO
màu vàng đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 63433 thu giữ của Nguyễn Tuấn K; 01
điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 54655 thu giữ
của Vi Văn V, đây là vật được sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu hóa giá
sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 150.000 đồng đã làm rõ do không dùng vào việc phạm tội cần tuyên trả cho Vi Văn V (cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án) theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với Nguyễn Tuấn K có hành vi Tàng trữ trái phép 0,040 gam
chất ma túy Methamphetamine chưa đủ khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, Nguyễn Tuấn K chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đối với Hoàng Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tuấn K, Hoàng Minh T là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông ở ngôi nhà tại tổ dân phố số 3, thị trấn K,
huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình điều tra làm rõ ngôi nhà là của Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1989, hiện Nguyễn Văn Dương không có mặt tại nơi cư trú, không ai biết đi đâu, làm gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã chuyển thông tin có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xác minh, xử lý theo thẩm quyền là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Hoàng Văn C làm nghề xe ôm, khi chở Vi Văn V đi nhưng
không biết Vi Văn V bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tuấn K, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn không đặt vấn đề xử lý Hoàng Văn C là đúng quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại lời khai của Vi Văn V có khai, tối ngày 06-3-2021 Vi Văn V đem
ma túy đến phòng trọ của người phụ nữ tên là Hồng ở ngõ 71, đường Xương Giang, khu Tân Hòa, thị trấn Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bán cho Nguyễn Tuấn K xong, Nguyễn Tuấn K đã cho Vi Văn V cùng sử dụng luôn tại đó. Lời khai của Nguyễn Tuấn K không thừa nhận việc cho Vi Văn V cùng sử dụng ma túy và khi đó chị Hồng đã đi ra khỏi phòng trọ (chị Hồng hiện không còn thuê trọ tại địa chỉ trên), ngoài lời khai của Vi Văn V ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn không có căn cứ xem xét, xử lý Nguyễn Tuấn K, Hồng về hành vi Tổ chức, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác của vụ án. Xét thấy đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị Vi Văn V bị kết án nên phải chịu
200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 333 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều
38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ
điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều
136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn V phạm tội Mua bán trái phép
chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Văn V 07 (bẩy) năm tù.Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09-3-2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo
Vi Văn V số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) để sung ngân
sách Nhà nước.
4. Về xử lý vật chứng:
4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong đựng mẫu
vật chất ma túy Methamphetamine hoàn trả sau giám định; 01 nắp nhựa màu đỏ
đục hai lỗ thủng, 01 lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu vàng, 01 coóng thủy tinh,
01 túi nilon miệng kẹp dính kích thước 02 cm x 02 cm.
4.2. Tịch thu, hóa giá sung vào ngân sách nhà nước số tiền 550.000 đồng;
01 điện thoại di động OPPO màu vàng đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 63433; 01
điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ, số Imei có 5 số cuối là 54655
4.3. Tuyên trả lại cho bị cáo Vi Văn V số tiền 150.000 (cần tạm giữ để
đảm bảo thi hành án).
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01tháng 9
năm 2021).
4. Về án phí: Bị cáo Vi Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan THAHSCA h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CA h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thúy Huyền |