vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 25/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Dương Chí A (Đ), Lê Thị Bé S (N) phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Bị cáo Dương Chí A (Đ) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời hạn thử thách của bị cáo là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án 25/6/2021 (ngày hai mươi lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mốt). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chí A + Bé S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dương Chí A (Đ), Lê Thị Bé S (N) phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày: 25/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Phương;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Khải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cù Ngọc Sang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Dương Chí A (Đ), sinh năm 1992; Nơi sinh: TC-AG; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Ấp 5, xã VX, thị xã TC, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Quang U, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1973; Chưa có vợ con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 21/7/2020, bị Công an thị xã TC xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc” (đã thực hiện xong quyết định xử phạt ngày 21/7/2020).

2. Lê Thị Bé S (N), sinh năm 1976; Nơi sinh: TC – AG; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Ấp 2, xã VX, thị xã TC, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn M, sinh năm 1930 và bà Phan Thị N, sinh năm 1938 (đã chết); Chưa có chồng con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 05/3/2020, bị Công an xã VX, thị xã TC, xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”.

Các bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Châu Chí C, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp 3, VX, thị xã TC, tỉnh AG vắng mặt;

- Anh Nguyễn Tuấn Ki, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp 3, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

- Anh Nguyễn Hữu Ph, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp 2, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

- Anh Tr n Thị Thanh Nh, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp 3, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

- Em V Minh Nh, sinh năm 2010; Địa chỉ: Ấp 3, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

Người giám hộ cho em V Minh Nh: Chị Phạm Thị (m ruột Nh), sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp 3, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

- Anh Nguyễn Đ c Ngọc, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp 5, VX, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt.

Người làm chứng: V Văn M, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 14/01/2021 đến 22/01/2021, Châu Chí C bắt đ u tổ ch c lắc “Tài

- Xỉu” thắng, thua bằng tiền tại khu vực ấp 3, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Khi tổ ch c, C chuẩn bị 01 tấm nhựa có ghi chữ “Tài

- Xỉu” và trên tấm nhựa có ghi các con số từ 04 - 17, 01 nấp nhựa hình trụ, 01 cái dĩa bằng sành, 03 hột xí ng u để cho những người chơi tham gia đặt cược. Trong thời gian tổ ch c, C thuê Nguyễn Hữu Ph (B), Dương Chí A, Nguyễn Đ c Ng làm nhiệm vụ cảnh giới và đưa điện thoại hiệu Nokia, có sim số 0365313991 cho Ph và Chí A để liên lạc với C khi có lực lượng Công an đến kiểm tra, thuê Tr n Thị Thanh Nh, Nguyễn Tuấn K và Võ Minh Nh làm dĩ và lắc “Tài - Xỉu” cho C. Sau khi tổ ch c lắc “Tài - Xỉu” xong, nếu thắng, C sẽ trả công cho Ph, Chí A, Ngọc, Nh và K mỗi người từ 50.000 đồng - 100.000 đồng, còn thua C sẽ không trả tiền cho những người trên. Vào khoảng 14 giờ ngày 22/01/2021, Nh lấy dụng cụ dùng để lắc “Tài - Xỉu” ra và có nhiều người đến tham gia đặt cược. Lúc này, Chí A làm nhiệm vụ cảnh giới ở khu vực Trạm y tế xã VX, Ng cảnh giới trên đường đi vào khu vực tổ ch c lắc “Tài - Xỉu”. Khi bắt đ u lắc “Tài - Xỉu”, C đưa cho Nh 500.000 đồng, để Nh và K trả tiền cho người đặt cược thắng, còn C lắc các hột xí ng u, lúc này có khoảng 04 - 05 người đến đặt cược, mỗi ván đặt cược từ 10.000 - 20.000 đồng. Sau đó, Nh vào lắc “Tài - Xỉu”, thay cho C, thì Lê Thị Bé S đến và cùng những người khác tham gia đặt cược. Trong lúc Bé S và những người khác đang đặt cược, Công an xã VX, thị xã TC đến, những người tham gia đánh bạc liền bỏ chạy. Sau đó, Công an xã VX, đã mời những người tham gia đánh bạc vào ngày 22/01/2021 đến Công an xã VX để làm việc.

Ngày 21/7/2020, Dương Chí A đã bị Công an thị xã TC, xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”.

Ngày 05/3/2020, Lê Thị Bé S đã bị Công an xã VX, thị xã TC, xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”.

Ngày 24/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, khởi tố Dương Chí A và Lê Thị Bé S, về tội: “Đánh bạc”.

Vật ch ng thu giữ trong vụ án gồm:

+ 01 (một) tấm nhựa, kích thước 95 x 57cm, trên tấm nhựa có ghi chữ Tài

- Xỉu và các số từ 04 - 17;

+ 01 (một) nấp nhựa, hình trụ, đường kính 6,1 cm, chiều cao 4,8 cm;

+ 01 (một) dĩa bằng sành, có hoa văn bông màu tím, đường kính 9,1 cm.

+ 03 (ba) hột xí ng u, màu trắng.

+ 01 (một) điện thoại di động, màu đen, hiệu Mobell, có sim số 0365313991 của Nguyễn Hữu Ph.

+ 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme của Nguyễn Đ c Ngọc.

+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, có sim số 039522434 của Dương Chí A.

+ 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ng, nhãn hiệu Itel, màu vàng đồng, mặt trước có kính C lực, bị vở bên gốc trái của Nguyễn Tuấn Kiệt (đã giao trả cho Kiệt).

+ Tiền Việt Nam: 1.170.000 đồng (của Châu Chí C 440.000 đồng; của Dương Chí A: 700.000 đồng; của Lê Thị Bé S: 30.000 đồng).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Châu Chí C, anh Nguyễn Hữu Ph, anh Nguyễn Tuấn K, chị Tr n Thị Thanh Nh, em Võ Minh Nh, anh Nguyễn Đ c Ng; Người làm ch ng V Văn M, trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSTC ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Dương Chí A (Đ), Lê Thị Bé S (N) về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Chí A, Bé S khai nhận hành vi đánh bạc như lời khai đã thể hiện tại giai đoạn điều tra và đúng như nội dung truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo Chí A tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 700.000 đồng, đối với điện thoại di động màu đen, hiệu Itel bị thu giữ giai đoạn điều tra không có ý kiến. Bị cáo Bé S tự nguyện giao nộp số tiền tham gia đánh bạc là 30.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đ c Ng giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra.

Chủ tọa công bố lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm ch ng vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không có ý kiến khác.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Dương Chí A: từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bé S: từ 09 tháng đến 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt bổ sung, các bị cáo thuộc thành ph n lao động nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Biện pháp tư pháp, xử lý vật ch ng:

- Về xử lý vật ch ng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch tiêu hủy:

+ 01 tấm nhựa, kích thước 95 x 57cm, trên tấm nhựa có ghi chữ Tài - Xỉu và các số từ 04 - 17;

+ 01 nấp nhựa, hình trụ, đường kính 6,1 cm, chiều cao 4,8 cm;

+ 01 dĩa bằng sành, có hoa văn bông màu tím, đường kính 9,1 cm.

+ 03 hột xí ng u, màu trắng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

+ 01 điện thoại di động, màu đen, hiệu Mobell, có sim số 0365313991 của Nguyễn Hữu Ph.

+ 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, có sim số 039522434 của Dương Chí A.

+ 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme của Nguyễn Đ c Ngọc.

+ Tiền Việt Nam: 1.170.000 đồng (của Châu Chí C 440.000 đồng; của Dương Chí A: 700.000 đồng; của Lê Thị Bé S: 30.000 đồng).

Trong ph n tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đ c Ng có yêu c u nhận lại điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, Đ c Ngọc sử dụng điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme để liên lạc với Chí A trong việc cảnh giới canh đường, liên lạc với Chí A khi có lực lượng Công an đến kiểm tra, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các bị cáo Dương Chí A, Lê Thị Bé S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về tội “Đánh bạc” xảy ra tại khu vực ấp 3, xã VX, thị xã TC nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt người có quyền lợi, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Châu Chí C, anh Nguyễn Hữu Ph, anh Nguyễn Tuấn K, chị Tr n Thị Thanh Nh, em Võ Minh Nh; Người làm ch ng V Văn M đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn c Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Chí A, Bé S khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc (lắc Tài – Xỉu) ăn thua bằng tiền. Hành vi của các bị cáo được xác định như sau:

Từ ngày 14/01/2021 đến 22/01/2021, Châu Chí C bắt đ u tổ ch c lắc “Tài

- Xỉu” thắng, thua bằng tiền tại khu vực ấp 3, xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Khi tổ ch c, C chuẩn bị 01 tấm nhựa có ghi chữ “Tài

- Xỉu” và trên tấm nhựa có ghi các con số từ 04 - 17, 01 nấp nhựa hình trụ, 01 cái dĩa bằng sành, 03 hột xí ng u để cho những người chơi tham gia đặt cược. Trong thời gian tổ ch c, C thuê Nguyễn Hữu Ph (B), Dương Chí A, Nguyễn Đ c Ng làm nhiệm vụ cảnh giới và đưa điện thoại hiệu Nokia, có sim số 0365313991 cho Ph và Chí A để liên lạc với C khi có lực lượng Công an đến kiểm tra, thuê Tr n Thị Thanh Nh, Nguyễn Tuấn K và Võ Minh Nh làm dĩ và lắc “Tài - Xỉu” cho C. Sau khi tổ ch c lắc “Tài - Xỉu” xong, nếu thắng, C sẽ trả công cho Ph, Chí A, Ngọc, Nh và K mỗi người từ 50.000 đồng - 100.000 đồng, còn thua C sẽ không trả tiền cho những người trên.

Vào khoảng 14 giờ ngày 22/01/2021, Nh lấy dụng cụ dùng để lắc “Tài - Xỉu” ra và có nhiều người đến tham gia đặt cược. Lúc này, Chí A làm nhiệm vụ cảnh giới ở khu vực Trạm y tế xã VX, Ng cảnh giới trên đường đi vào khu vực tổ ch c lắc “Tài - Xỉu”. Khi bắt đ u lắc “Tài - Xỉu”, C đưa cho Nh 500.000 đồng, để Nh và K trả tiền cho người đặt cược thắng, còn C lắc các hột xí ng u, lúc này có khoảng 04 - 05 người đến đặt cược, mỗi ván đặt cược từ 10.000 - 20.000 đồng. Sau đó, Nh vào lắc “Tài - Xỉu”, thay cho C, thì Lê Thị Bé S đến và cùng những người khác tham gia đặt cược. Trong lúc Bé S và những người khác đang đặt cược, Công an xã VX, thị xã TC đến, những người tham gia đánh bạc liền bỏ chạy. Sau đó, Công an xã VX, đã mời những người tham gia đánh bạc vào ngày 22/01/2021 đến Công an xã VX để làm việc.

Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm ch ng được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm đánh bạc cũng như số tiền mà bị cáo Bé S thực hiện hành vi đánh bạc, số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Chí A trong việc cảnh giới canh đường cho Châu Chí C. Ngoài ra, diễn biến, nội dung của vụ án và hành vi mà bị cáo đã thực hiện còn phù hợp biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 22/01/2021 do Công an xã VX lập, cùng vật ch ng vụ án được thu giữ và các tài liệu, ch ng c liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn c trên có cơ sở xác định, các bị cáo Chí A, Bé S đã tham gia đánh bạc trái phép dưới hình th c lắc Tài - Xỉu thắng thua bằng tiền. Các bị cáo Chí A, Bé S đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình th c Tài - Xỉu thắng thua bằng tiền nên thỏa mãn mặt khách quan tội “Đánh bạc”.

Các bị cáo là người có đ y đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận th c r hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện theo lời nhận tội của bị cáo.

Đánh bạc, trong đó có hình th c lắc “Tài – Xỉu” thắng thua bằng tiền, là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Bên cạnh, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tại phiên tòa là có căn c , đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thuộc thành ph n lao động nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có trình độ học vấn thấp nên nhân th c pháp luật có ph n hạn chế; bị cáo Chí A tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính, bị cáo Bé S tự nguyện nộp số tiền tham gia đánh bạc là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt:

Về hình phạt chính:

Bị cáo Chí A có 02 (hai) tình tiết giảm nh được quy định tại khoản 1, nhiều tình tiết giảm nh được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bô luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú r ràng; không có tiền án, tiền sự.

Xét, không c n thiết cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội, có thể để bị cáo Chí A dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục. Cho bị cáo Chí A hưởng án treo.

Gia đình bị cáo Chí A có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Bị cáo Bé S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có hai tình tiết giảm nh được quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nh theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú r ràng, chưa có tiền án. Xét, không c n cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội, hình phạt cải tạo không giam giữ có thể để bị cáo Bé S lao động cải tạo dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục. Gia đình bị cáo Bé S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Bị cáo Bé S phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một ph n thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên xét, bị cáo Bé S có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, làm thuê, mua bán nhỏ lẻ và số tiền đánh bạc không đánh kể nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Bé S.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 01 ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đối với bị cáo Chí A.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 02 ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đối với bị cáo Bé S.

Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc thành ph n lao động nghèo, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật ch ng:

- Ngoài lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về số tiền đánh bạc tham gia đánh bạc là 1.170.000 đồng (của Châu Chí C 440.000 đồng; của Dương Chí A: 700.000 đồng; của Lê Thị Bé S: 30.000 đồng), không còn nguồn ch ng c nào khác để xác định số tiền tham gia đánh bạc nên chấp nhận số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là 1.170.000 đồng, xét buộc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- 01 (một) điện thoại di động, màu đen, hiệu Mobell, có sim số 0365313991 của Nguyễn Hữu Ph; 01 (một) điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, có sim số 039522434 của Dương Chí A; 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme của Nguyễn Đ c Ngọc liên quan đến việc đánh bạc, xét buộc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy dụng cụ đánh bạc: 01 (một) tấm nhựa, kích thước 95 x 57cm, trên tấm nhựa có ghi chữ Tài - Xỉu và các số từ 04 - 17; 01 (một) nấp nhựa, hình trụ, đường kính 6,1 cm, chiều cao 4,8 cm; 01 (một) dĩa bằng sành, có hoa văn bông màu tím, đường kính 9,1 cm; 03 (ba) hột xí ng u, màu trắng (đã qua sử dụng) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

(Theo biên bản giao, nhận vật ch ng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 23/ 6/2021).

Những vấn đề khác:

Đối với Châu Chí C đã có hành vi “Tổ ch c đánh bạc”; Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Hữu Ph, Tr n Thị Thanh Nhiều, Nguyễn Đ c Ngọc đã có hành vi “Đánh bạc”. Đây là hành vi, vi phạm pháp luật nhưng chưa đến m c truy c u trách nhiệm hình sự, nên Công an thị xã Tân Châu xử phạt hành chính là có căn c .

Đối với V Minh Nhựt, sinh năm 2010, đã có hành vi giúp s c cho Châu Chí C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, đã giao cho gia đình Nhựt để giáo dục là phù hợp quy định pháp luật.

Án phí: Các bị cáo Chí A, Bé S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Dương Chí A (Đ), Lê Thị Bé S (N) phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Chí A (Đ) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Thời hạn thử thách của bị cáo là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án 25/6/2021 (ngày hai mươi lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mốt).

Giao bị cáo Dương Chí A cho Ủy ban nhân dân xã VX, thị xã TC, tỉnh AG giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 01 ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đối với bị cáo Chí A.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Thị Bé S (N): 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân VX, thị xã TC, tỉnh AG được giao giám sát, giáo dục và bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Thị Bé S cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã VX, thị xã TC, tỉnh AG trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Bị cáo Lê Thị Bé S được miễn khấu trừ thu nhập.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 02 ngày 03/6/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đối với bị cáo Bé S.

Căn cứ vào a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: số tiền 1.170.000 đồng (của Châu Chí C 440.000 đồng; của Dương Chí A: 700.000 đồng; của Lê Thị Bé S: 30.000 đồng).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động, màu đen, hiệu Mobell, có sim số 0365313991 của Nguyễn Hữu Ph;

+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, có sim số 039522434 của Dương Chí A;

+ 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ng, hiệu Realme của Nguyễn Đ c Ngọc.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) tấm nhựa, kích thước 95 x 57cm, trên tấm nhựa có ghi chữ Tài

- Xỉu và các số từ 04 - 17; 01 (một) nấp nhựa, hình trụ, đường kính 6,1 cm, chiều cao 4,8 cm;

+ 01 (một) dĩa bằng sành, có hoa văn bông màu tím, đường kính 9,1 cm;

+ 03 (ba) hột xí ng u, màu trắng (đã qua sử dụng);

(Theo biên bản giao, nhận vật ch ng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 23/6/2021).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Dương Chí A, Lê Thị Bé S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Chí A, Bé S; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đ c Ngọc có mặt có quyền kháng cáo để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ